Không phải mọi trường hợp giám định ADN đều cho ra kết quả ngay từ lần đầu. Trong thực tế, có những vụ việc kéo dài qua nhiều lần đối chiếu, nhiều đối tượng nghi vấn nhưng vẫn chưa thể xác định được người liên quan.
Theo kỹ thuật viên Hoàng Thị Thu Hà, Trung tâm Pháp y Hà Nội, đây là một trong những dạng tình huống phức tạp nhất trong quá trình làm nghề.
4 lần giám định ADN vẫn chưa tìm ra cha đứa bé
Một vụ việc mà bà trực tiếp tham gia đã kéo dài qua nhiều lần giám định nhưng chưa thể xác định được người cha, dù đã xét nghiệm nhiều đối tượng nghi vấn theo yêu cầu của cơ quan điều tra.
“Tôi trực tiếp làm một vụ mà công an đã trưng cầu giám định. Ban đầu nghi ngờ một người nhưng kết quả không phải. Sau đó, tiếp tục lấy mẫu người thứ hai, thứ ba, đến cả người thứ tư mà vẫn không xác định được. Đến giờ vụ đó vẫn chưa tìm ra người cha dù đã xét nghiệm nhiều mẫu nghi ngờ”, bà Hà kể lại.
Mẫu ADN được đối chiếu với nhiều đối tượng nghi vấn theo yêu cầu của cơ quan điều tra (Ảnh: Hải Yến).
Theo phân tích chuyên môn, khó khăn lớn nhất nằm ở việc không có điểm khởi đầu cụ thể để khoanh vùng. Với các vụ xâm hại, việc xác định đối tượng thường dựa vào lời khai, nhưng khi lời khai không ổn định thì toàn bộ quá trình giám định trở nên bị động.
“Trong những trường hợp người bị hại hạn chế về nhận thức, thông tin đưa ra không nhất quán. Họ có thể khai nhiều người khác nhau trong các thời điểm khác nhau. Điều đó khiến việc xác định đối tượng nghi vấn gần như phải làm theo hướng loại trừ từng người một”, bà phân tích.
Về mặt kỹ thuật, mỗi lần giám định là một lần so sánh ADN của trẻ với mẫu của người nghi vấn. Nếu không trùng khớp, kết quả chỉ dừng lại ở mức loại trừ, chứ không cung cấp thêm thông tin để định hướng đối tượng tiếp theo.
“Xét nghiệm ADN không thể chỉ ra người cha là ai nếu không có mẫu so sánh phù hợp. Nó chỉ có thể khẳng định một người có phải hay không phải. Vì vậy nếu danh sách nghi vấn không chính xác thì việc giám định có thể kéo dài rất lâu”, bà Hà cho biết.
Trong một số trường hợp, phạm vi nghi vấn được mở rộng dựa trên những người có tiếp xúc trong cùng khoảng thời gian, khiến số lượng mẫu cần xét nghiệm tăng lên đáng kể.
“Có những vụ phải lấy mẫu của nhiều người trong cùng một khoảng thời gian tiếp xúc. Nhưng dù xét nghiệm nhiều mẫu, nếu vẫn chưa đúng đối tượng thì kết quả cuối cùng vẫn là chưa xác định được”, bà nói.
Nguy cơ loại trừ nhầm đối tượng nếu giám định máy móc
Theo bà Hà, giám định ADN không chỉ là việc đọc kết quả từ máy móc mà còn là quá trình phân tích tổng hợp giữa dữ liệu sinh học và bối cảnh thực tế. Nếu chỉ làm theo quy trình một cách máy móc, nguy cơ bỏ sót hoặc kết luận sai hoàn toàn có thể xảy ra.
“Tôi luôn phải đặt kết quả xét nghiệm vào trong tình tiết vụ việc. Nếu kết quả chưa hợp lý thì phải xem lại, xử lý lại mẫu và tìm nguyên nhân. Không phải cứ có kết quả là kết luận ngay”, bà cho biết.
Lựa chọn vị trí lấy mẫu phù hợp giúp tránh loại trừ nhầm đối tượng trong giám định ADN (Ảnh: Hải Yến).
Một ví dụ điển hình là trường hợp nếu chỉ lấy mẫu tại vị trí thông thường, kết quả có thể dẫn đến kết luận sai.
“Tôi từng làm một vụ mà nạn nhân đã chỉ ra đối tượng và người đó cũng đã khai nhận hành vi xâm hại. Nhưng khi lấy mẫu ở vị trí thường quy như đũng quần lót thì kết quả lại không trùng với đối tượng, mà chỉ ra ADN của chồng nạn nhân. Nếu dừng lại ở đó thì hoàn toàn có thể đi đến kết luận là không phải người bị nghi ngờ”, bà Hà kể.
Phân tích lại tình huống, nhóm giám định đặt vấn đề về các yếu tố sau khi sự việc xảy ra, đặc biệt là khả năng dấu vết bị thay đổi do sinh hoạt sau đó của nạn nhân.
“Chúng tôi phải đặt lại toàn bộ tình huống. Sau khi bị xâm hại, nạn nhân có thể đã về sinh hoạt bình thường với chồng. Khi đó, tinh dịch của người chồng có thể tồn tại với mật độ lớn hơn và mới hơn, dẫn đến việc lấn át dấu vết của người trước đó ở vị trí đũng quần”, bà phân tích.
Từ nhận định này, hướng lấy mẫu được thay đổi, không chỉ tập trung vào vị trí thông thường mà mở rộng ra các khu vực có khả năng lưu giữ dấu vết khác.
“Khi làm lại, chúng tôi không chỉ lấy ở đũng quần mà lấy thêm ở vùng phía sau, nơi có thể là đường chảy của dịch sinh học sau khi sự việc xảy ra. Chính tại vị trí đó, kết quả ADN trùng khớp với đối tượng đã bị tố cáo”, bà cho biết.
Vụ việc cho thấy rõ nếu chỉ dựa vào một vị trí mẫu và kết luận ngay, có thể dẫn đến việc loại trừ nhầm đối tượng.
“Nếu chỉ lấy mẫu ở đũng quần và dừng lại ở kết quả ban đầu, thì người này có thể đã được loại trừ, trong khi thực tế họ là người gây ra hành vi. Điều này cho thấy giám định ADN không thể làm một cách máy móc”, bà Hà nhấn mạnh.
Việc xác định vị trí lấy mẫu cần dựa trên hiểu biết về cơ chế lưu giữ dấu vết sinh học, bao gồm hướng di chuyển của dịch, thời gian tồn tại và các yếu tố tác động sau đó.
“Mình phải hình dung được diễn biến thực tế. Dịch sinh học không nằm cố định một chỗ mà có thể chảy, thấm, bị tác động bởi các hoạt động sau đó. Nếu không có kinh nghiệm và không đặt mình vào tình huống thì rất dễ bỏ sót”, bà chia sẻ.
Từ những ca như vậy, kỹ thuật viên cho rằng giám định ADN là lĩnh vực đòi hỏi sự kết hợp giữa khoa học, kinh nghiệm và khả năng suy luận.
Nguồn: https://dantri.com.vn/suc-khoe/4-lan-giam-dinh-adn-nhung-nguoi-cha-trong-vu-xam-hai-van-la-an-so-20260321113302357.htm

