Lối sống hiện đại đẩy người trẻ vào nguy cơ bệnh mạch vành
Chia sẻ tại buổi tọa đàm trực tuyến “Bệnh mạch vành: Gánh nặng & xu hướng điều trị mới” mới đây trên báo Dân trí, ThS.BS Nguyễn Văn Hải, Trưởng khoa Tim mạch – Tim mạch can thiệp, Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc – Phúc Trường Minh, cảnh báo về mức độ nguy hiểm của bệnh mạch vành và xu hướng trẻ hóa.
Theo bác sĩ, mạch vành là mạch máu có nhiệm vụ nuôi quả tim. Mạch vành bị tổn thương thường là do quá trình xơ vữa. Tình trạng này xuất phát từ các yếu tố nguy cơ tim mạch như tuổi cao, hút thuốc lá, thuốc lào, lối sống ít vận động, cũng như những yếu tố đã được hiểu rất rõ như tăng huyết áp, đái tháo đường hay rối loạn chuyển hóa lipid.
Quá trình xơ vữa tiến triển dần theo thời gian, khiến mạch vành bị hẹp lại và không còn cung cấp đủ máu cho quả tim.
ThS.BS Nguyễn Văn Hải, Trưởng khoa Tim mạch – Tim mạch can thiệp, Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc – Phúc Trường Minh chia sẻ tại buổi tọa đàm (Ảnh: Hải Long).
Đặc biệt nguy hiểm là khi dòng máu nuôi tim bị tắc đột ngột, dẫn đến nhồi máu cơ tim. Chính vì vậy, bệnh mạch vành là một bệnh lý rất nguy hiểm, có thể gây hậu quả nghiêm trọng nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
Bên cạnh đó, một điểm đáng chú ý là nhồi máu cơ tim không còn là câu chuyện của người cao tuổi, mà đang có xu hướng dịch chuyển sang nhóm người trẻ và trung niên. Họ có các yếu tố nguy cơ hiện đại như hút thuốc lá, stress trong công việc, lối sống tĩnh tại, ít vận động, thức đêm quá nhiều. Đây là những yếu tố nguy cơ rất hiện hữu ở người Việt Nam, đặc biệt là trong giới trẻ.
Theo BS Hải, nhồi máu cơ tim ở người trẻ thường diễn biến rất dữ dội, có trường hợp rơi vào sốc tim, có người cảm giác như đang bị đe dọa trực tiếp đến tính mạng, giống như sắp chết thật sự. Chính điều đó khiến nhiều bệnh nhân rơi vào một cuộc khủng hoảng tâm lý nặng nề.
Bên cạnh đó, ngay cả ở những nhóm đối tượng có lối sống rất tích cực, tập luyện thường xuyên và bài bản, chúng ta vẫn có thể gặp những trường hợp đáng tiếc, đó là đột tử ở các vận động viên thể thao chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp.
Bản thân bác sĩ từng điều trị một bệnh nhân nam, 47 tuổi, leo núi nhiều năm. Với một người leo núi lâu năm, cường độ gắng sức và thể lực rất tốt. Tuy nhiên, có một ngày, anh cảm thấy mệt và đi khám. Qua thăm khám, anh được chẩn đoán bị nhồi máu cơ tim.
“Khi được thông báo, bệnh nhân thực sự rất sốc và không tin. Thậm chí ban đầu còn phản ứng khá gay gắt, vì anh cho rằng mình tập luyện đều đặn, không có yếu tố nguy cơ tim mạch rõ ràng thì không thể mắc bệnh này”, BS Hải kể lại.
Trường hợp này cho thấy, dù bệnh nhân gần như không có yếu tố nguy cơ tim mạch điển hình, thì vẫn có thể tồn tại những yếu tố cơ địa hoặc những nguy cơ tiềm ẩn mà chúng ta không dễ nhận ra.
Ông cũng nhấn mạnh thêm điện tim đồ bình thường hoàn toàn không loại trừ được bệnh mạch vành. Trên thực tế, có khoảng 40-50% những người mắc bệnh mạch vành nhưng điện tim đồ vẫn hoàn toàn bình thường.
Thậm chí, các bác sĩ từng gặp những bệnh nhân hẹp cả ba thân động mạch vành, nhưng khi làm điện tim thì kết quả vẫn không ghi nhận bất thường.
Như vậy, điện tim là một xét nghiệm có giá trị khi kết quả cho thấy bất thường. Tuy nhiên, với những bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch, nếu điện tim đồ bình thường thì chúng ta vẫn không được chủ quan. Bệnh nhân vẫn cần được tiếp tục theo dõi và khi cần thiết phải thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu hơn để khẳng định có hay không bệnh mạch vành. Ví dụ như điện tim gắng sức.
Không chỉ là cơn đau ngực: Những dấu hiệu âm thầm cảnh báo bệnh
Theo BS Hải dấu hiệu kinh điển của bệnh mạch vành là cơn đau ngực, tuy nhiên không phải lúc nào bệnh cũng biểu hiện theo cách điển hình như vậy (Ảnh: Hải Long)
BS Hải cho biết, dấu hiệu kinh điển nhất của bệnh là cơn đau ngực. Đó là cơn đau ở giữa ngực, đau sau xương ức, cơn đau có thể lan lên cằm, lên cổ, cảm giác như có một hòn đá đè nặng ở giữa ngực, và có thể lan ra cánh tay trái. Cơn đau thường kéo dài khoảng 15 đến 20 phút. Người bệnh cần đến bệnh viện càng sớm càng tốt.
Tuy nhiên, trên thực tế thì không phải lúc nào bệnh cũng biểu hiện theo cách điển hình như vậy. Có rất nhiều trường hợp biểu hiện không điển hình, thậm chí là không đau ngực.
Có người chỉ thấy khó thở, vã mồ hôi, có người cảm thấy mệt mỏi không tương xứng, tức là không làm gì cũng mệt, hoặc chỉ làm một việc rất nhẹ nhưng cũng thấy rất mệt. Đây đều là những biểu hiện không điển hình của bệnh mạch vành và trong những trường hợp này, người bệnh cần được tư vấn và thăm khám bởi nhân viên y tế.
Những trường hợp này thường hay gặp ở một số nhóm đối tượng nhất định. Đó là phụ nữ, người cao tuổi và đặc biệt là bệnh nhân đái tháo đường. Ở những đối tượng này, các triệu chứng thường bị lu mờ, không rõ ràng.
“Trên thực tế, đôi khi bác sĩ phải rất vất vả để giải thích cho bệnh nhân hiểu rằng mình đang mắc bệnh mạch vành. Nhiều bệnh nhân nói rằng họ không hề đau ngực, không thấy có triệu chứng gì của bệnh mạch vành cả. Tuy nhiên, các biểu hiện khác lại rất điển hình cho bệnh lý này”, BS Hải nhấn mạnh.
Đặc biệt nguy hiểm là có một thể gọi là đột tử do mạch vành, tức là bệnh chưa kịp biểu hiện rõ trên lâm sàng thì bệnh nhân đã rơi vào hôn mê và tử vong ngay. Đây là những thể lâm sàng rất phức tạp và hết sức nguy hiểm.
Nong bóng phủ thuốc quay trở lại: Xu hướng mới trong tim mạch can thiệp


Buổi tọa đàm trực tuyến “Bệnh mạch vành: Gánh nặng & xu hướng điều trị mới” diễn ra mới đây trên báo Dân trí (Ảnh: Hải Long).
Về các phương pháp điều trị, nền tảng cơ bản và không thể thiếu chính là điều trị nội khoa. Dù chúng ta có can thiệp bằng những phương pháp hiện đại đến đâu, nhưng nếu không điều trị nội khoa tốt thì sớm muộn mạch vành vẫn có thể hẹp lại hoặc tắc lại.
Điều trị nội khoa trước hết là thay đổi lối sống. Bệnh nhân cần được hướng dẫn giảm stress, tránh lối sống tĩnh tại, tăng cường vận động thể lực, đồng thời từ bỏ các thói quen xấu như hút thuốc lá, uống rượu bia, đặc biệt ở Việt Nam còn có thói quen hút thuốc lào.
Bên cạnh đó là kiểm soát chặt chẽ các yếu tố nguy cơ tim mạch. Rất nhiều bệnh nhân uống thuốc đều, nhưng vấn đề quan trọng là các chỉ số đã đạt mục tiêu điều trị hay chưa, như mỡ máu ở mức bao nhiêu, đường huyết, huyết áp đã được kiểm soát đến đâu. Không phải cứ uống thuốc là mọi thứ đã ổn, mà cần đạt được các mục tiêu cụ thể.
Ngoài ra, trong điều trị bệnh mạch vành, chúng tôi thường sử dụng các thuốc kháng kết tập tiểu cầu để hạn chế hình thành cục máu đông. Khi mạch vành không may xảy ra biến cố cấp tính, các thuốc này giúp giảm gánh nặng huyết khối, từ đó hỗ trợ quá trình tái thông mạch vành tốt hơn.
Phương pháp điều trị thứ hai đang được sử dụng rất rộng rãi trên thế giới cũng như tại Việt Nam là can thiệp động mạch vành qua da. Bác sĩ sẽ nong rộng mạch vành và đặt stent để cải thiện dòng chảy máu.
Ngoài ra còn có những phương pháp mới hơn như nong bóng phủ thuốc.
Nong bóng phủ thuốc về bản chất là chúng ta sẽ nong cho mạch vành rộng ra trước, bước này được gọi là chuẩn bị tổn thương. Sau khi chuẩn bị tổn thương tốt, bác sĩ sẽ đánh giá lại xem mạch vành có đáp ứng đủ điều kiện để áp dụng nong bóng phủ thuốc hay không.
Về chỉ định kinh điển, nong bóng phủ thuốc thường được áp dụng trong hai trường hợp chính là tái hẹp trong stent và tổn thương ở các mạch vành nhỏ.
Trong những năm gần đây, nong bóng phủ thuốc đang quay trở lại như một xu hướng khá rõ rệt trong lĩnh vực tim mạch can thiệp. Nguyên nhân là vì qua thực tế lâm sàng, người ta nhận thấy rằng stent, dù mang lại rất nhiều lợi ích, nhưng trong một số trường hợp cũng có thể gây ra những vấn đề không mong muốn cho bệnh nhân.
Tuy vậy, đây là phương pháp có chỉ định khá chặt chẽ. Nong bóng phủ thuốc hiện tại không thể thay thế hoàn toàn việc đặt stent trong tất cả các trường hợp.
Nong bóng phủ thuốc đã được triển khai trên thế giới từ những năm 2000. Tuy nhiên, do hạn chế về công nghệ cũng như kỹ thuật can thiệp thời kỳ đó, phương pháp này từng bị “lãng quên” trong một thời gian khá dài. Những năm gần đây, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và kỹ thuật can thiệp tim mạch, nong bóng phủ thuốc đã quay trở lại và được ứng dụng ngày càng nhiều.


BS Hải khẳng định nong bóng phủ thuốc hiện tại không thể thay thế hoàn toàn việc đặt stent trong tất cả các trường hợp (Ảnh: Hải Long).
“Trong thực hành lâm sàng hiện nay, các bác sĩ can thiệp thường phối hợp cả hai phương pháp, hay còn gọi là chiến lược “lai”. Tức là có thể vừa đặt stent, vừa nong bóng phủ thuốc trên cùng một mạch máu, hoặc đặt stent ở nhánh chính và nong bóng phủ thuốc ở nhánh phụ.
Cách làm này giúp giảm gánh nặng phải đặt quá nhiều stent cho bệnh nhân, và đây là xu hướng đang được áp dụng ngày càng rộng rãi trên thế giới”, BS Hải nói.
Điều trị bệnh mạch vành – điều trị lâu dài
BS Hải cho biết ông hay nói vui với bệnh nhân rằng, việc mắc bệnh mạn tính cũng giống như các cháu bị cận thị. Muốn nhìn rõ thì phải đeo kính, với bệnh mạch vành, muốn bệnh ổn định phải uống thuốc đều đặn. Đây là câu chuyện điều trị lâu dài.
Can thiệp mạch vành thực chất chỉ là một khâu tương đối nhỏ trong toàn bộ quá trình điều trị bệnh mạch vành. Việc đặt stent vào mạch vành chủ yếu nhằm mục đích làm rộng lòng mạch, giúp dòng máu lưu thông tốt hơn.
Trên stent có phủ thuốc để ngấm vào thành mạch, giúp hạn chế nguy cơ tái hẹp ngay tại vị trí đã can thiệp. Tuy nhiên, bản thân các yếu tố nguy cơ gây ra bệnh mạch vành thì vẫn còn đó và vẫn có thể tiếp tục tiến triển.
Chính vì vậy, sau can thiệp, việc kiểm soát và điều trị nội khoa đóng vai trò hết sức quan trọng.

Mạch vành là một bệnh lý rất nguy hiểm. Nếu được khám, tầm soát, kiểm tra và đánh giá sớm, bệnh hoàn toàn có thể điều trị hiệu quả.
Một điểm cần nhấn mạnh là khi chúng ta can thiệp và đặt stent vào mạch vành, kể cả trong bối cảnh bệnh mạch vành ổn định, thì bản thân thủ thuật này cũng được xem như một yếu tố kích hoạt, làm mạch vành rơi vào trạng thái tương tự một biến cố cấp. Do đó, vấn đề sử dụng thuốc kháng kết tập tiểu cầu cần được đặc biệt quan tâm.
Sau khi đặt stent, người bệnh sẽ được chỉ định dùng thuốc kháng kết tập tiểu cầu kép nhằm ngăn ngừa hình thành cục máu đông trong stent. Thời gian sử dụng thuốc sẽ được cá thể hóa cho từng bệnh nhân.
Thông thường là khoảng một năm, nhưng trong một số trường hợp nguy cơ chảy máu cao hoặc đặc thù về lâm sàng, thời gian này có thể rút ngắn hơn, có thể chỉ một tháng hoặc ba tháng, tùy theo đánh giá và chỉ định cụ thể của bác sĩ điều trị.
BS Hải khuyến cáo, bệnh mạch vành là một bệnh lý rất nguy hiểm. Sự nguy hiểm này nhiều khi đến từ chính sự chủ quan, khi người bệnh không được tầm soát, không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Nếu được khám, tầm soát, kiểm tra và đánh giá sớm, bệnh mạch vành hoàn toàn có thể điều trị hiệu quả.
Khi đó, người bệnh vẫn có thể sinh hoạt, làm việc và sống gần như một người bình thường.
“Chúng ta cũng không cần quá lo ngại về những hậu quả do các thủ thuật can thiệp gây ra, kể cả can thiệp mạch vành hay phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành. Lý do là nếu được chỉ định đúng và thực hiện kịp thời, những phương pháp này mang lại lợi ích rất lớn cho người bệnh”, BS Hải nói.
Nguồn: https://dantri.com.vn/suc-khoe/benh-mach-vanh-moi-nguy-tham-lang-voi-trai-tim-20260101084912365.htm

