LTS: Trước thềm Đại hội XIV của Đảng, Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên vươn mình trong bối cảnh thế giới đa cực biến động phức tạp chưa từng có. Không còn dừng lại ở tâm thế “tham gia”, nền ngoại giao nước nhà đang chuyển mình mạnh mẽ sang vai trò kiến tạo và dẫn dắt.
Loạt bài “Phát triển ngành ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp trong kỷ nguyên mới” của báo Pháp Luật TP.HCM mang đến bức tranh toàn cảnh về chiến lược đối ngoại tầm nhìn đến năm 2030-2045.
Từ việc định vị lại tâm thế đối tác tin cậy, phát huy sức mạnh mềm và sự phối hợp của ba trụ cột đối ngoại (Đảng, Nhà nước, Nhân dân) đến khát vọng tiên phong định hình luật chơi quốc tế trong các lĩnh vực ngách chiến lược.

Theo dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, đối ngoại tiếp tục được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm sau 40 năm đổi mới.
Dự thảo chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ ra nhiệm vụ của đối ngoại trong thời gian tới là đẩy mạnh triển khai đồng bộ và sáng tạo hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả.
Nhận diện thách thức và cơ hội
Dự thảo báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII nhận định cục diện thế giới đang chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng, phân mảnh và phân tuyến mạnh. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều thách thức mới.
Dự thảo cũng chỉ ra rằng “thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức lớn đan xen; trong nước đang triển khai những quyết sách chiến lược mang tính cách mạng, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới cao hơn; đồng thời đây cũng là bước ngoặt mới, vận hội mới mang tính lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.
ThS Nguyễn Thị Lan Đan, giảng viên tại Học viện Cán bộ TP.HCM, nhận định thách thức lớn nhất hiện nay với Việt Nam vẫn là nguy cơ bị cuốn vào cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, bị gây sức ép phải “nghiêng” về một bên.
Việt Nam cần xác định rõ lợi ích cụ thể và lĩnh vực ưu tiên hợp tác với từng đối tác, tránh tình trạng quan hệ “rộng nhưng nông”. Cần có cơ chế theo dõi, đánh giá và thúc đẩy thực thi các cam kết trong khuôn khổ đối tác chiến lược toàn diện. Cần đầu tư vào kết nối doanh nghiệp, địa phương và nhân dân hai bên, không chỉ dừng lại ở quan hệ cấp Chính phủ.
ThS PHAN XUÂN DŨNG, nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS-Yusof Ishak, Singapore, nghiên cứu sinh tại ĐH Quốc gia Úc)
Dù thế, bối cảnh hiện nay cũng tạo cho Việt Nam cơ hội để nâng cao vị thế chiến lược và trở thành điểm đến quan trọng trong mạng lưới kinh tế – chính trị khu vực vì các nước lớn cần thêm đối tác, cần các quốc gia tầm trung có vị trí chiến lược như Việt Nam.
Bên cạnh vấn đề cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, ThS Phan Xuân Dũng, nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS-Yusof Ishak, Singapore, nghiên cứu sinh tại ĐH Quốc gia Úc), cho rằng cần lưu ý nhiều thách thức khác với Việt Nam trong bối cảnh mới. Các thách thức này có thể kể đến gồm các vấn đề an ninh phi truyền thống như an ninh mạng, an ninh công nghệ. Bên cạnh đó, cạnh tranh về chuỗi cung ứng toàn cầu cũng đặt ra yêu cầu cao về năng lực dự báo và ứng phó.
Tuy nhiên, ThS Phan Xuân Dũng lạc quan rằng cục diện đa cực, đa trung tâm hiện nay mang lại cho Việt Nam những cơ hội lớn với tư cách là một quốc gia tầm trung. Khi quyền lực không tập trung vào một hoặc hai trung tâm, các nước vừa và nhỏ như Việt Nam có không gian chiến lược rộng để xây dựng quan hệ đối tác đa dạng, tránh bị phụ thuộc quá nhiều vào một nước lớn hoặc một khối.
“Điều này giúp Việt Nam trở thành cầu nối tin cậy giữa các nước và các khối có cạnh tranh chiến lược với nhau, qua đó nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Từ vị thế cầu nối này, Việt Nam có thể tranh thủ tối đa nguồn lực, công nghệ, vốn đầu tư và sự ủng hộ từ nhiều phía để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời bảo đảm an ninh quốc gia” – ThS Phan Xuân Dũng nhận định.
Ngoại giao Việt Nam thích ứng tình hình mới
Dự thảo báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII nêu rõ rằng vai trò của đối ngoại trong thời kỳ mới là bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi.
Trước những biến động bên ngoài, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng và triển khai nhiều chủ trương, chính sách đối ngoại linh hoạt, phù hợp: Từ chủ trương “muốn là bạn” đến “sẵn sàng là bạn”, “là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm” của cộng đồng quốc tế.

ThS Phan Xuân Dũng cho rằng việc chuyển đổi từ “muốn là bạn” sang “là đối tác tin cậy” phản ánh bước tiến lớn trong nhận thức và tư duy đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Từ “muốn là bạn” thể hiện mong muốn được chấp nhận, thoát khỏi thế cô lập sau chiến tranh và trong bối cảnh cấm vận.
Khi chuyển sang “sẵn sàng là bạn”, Việt Nam đã chủ động hơn, thể hiện thiện chí hợp tác rộng rãi với cộng đồng quốc tế. “Là đối tác tin cậy” thể hiện rằng Việt Nam không còn chỉ là bên tiếp nhận mà đã trở thành đối tác có giá trị, có đóng góp thiết thực cho hòa bình và phát triển khu vực, quốc tế.
“Sự chuyển đổi này phản ánh sự phát triển của thực lực quốc gia – từ kinh tế, chính trị đến uy tín quốc tế của Việt Nam. Khi đất nước phát triển, có nội lực vững chắc, Việt Nam có điều kiện để đóng vai trò tích cực hơn trên trường quốc tế” – theo Ths Phan Xuân Dũng.
Một thay đổi nữa trong tư duy đối ngoại của Việt Nam thời kỳ mới là chuyển từ nhận thức “bạn – thù” trước đây sang “đối tác, đối tượng”. Theo ThS Nguyễn Thị Lan Đan, điều này có ý nghĩa quan trọng hướng tới tư duy mở, hợp tác đa phương, dựa trên lợi ích cốt lõi và khả năng ứng phó linh hoạt trong bối cảnh quốc tế phức tạp.•
Nhận diện sức mạnh mềm của Việt Nam
Về văn hóa, Việt Nam sở hữu một nền văn hóa lâu đời, đa dạng, thấm đượm tinh thần hòa hiếu; một lịch sử đấu tranh kiên cường nhưng luôn hướng đến hòa giải và hòa bình; một lối sống thân thiện, cởi mở; ẩm thực và du lịch được đánh giá cao toàn cầu; một thế hệ trẻ sáng tạo, linh hoạt. Những phẩm chất như hiền hòa, khoan dung, “dễ gần” cùng tinh thần độc lập và ý chí vượt khó đã tạo nên hình ảnh một dân tộc vừa bản lĩnh vừa nhân văn – một dạng hấp dẫn rất đặc thù trong mắt bạn bè quốc tế.
Về hệ giá trị, Việt Nam được biết đến là một quốc gia ổn định, bao trùm, nhân văn và yêu chuộng hòa bình. Giá trị chính trịtạo sức hấp dẫn không phải bằng tuyên bố, mà bằng hành động thực tế. Và thực tiễn của Việt Nam đã nhất quán thể hiện: Ổn định chính trị – xã hội; coi con người là trung tâm của phát triển; phát triển bao trùm, giảm nghèo thành công; đề cao pháp quyền và luật pháp quốc tế; xây dựng một xã hội an toàn, thân thiện.
Về chính sách đối ngoại, Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập – tự chủ, đa phương hóa – đa dạng hóa, hòa bình – hợp tác – phát triển; tôn trọng luật pháp quốc tế; chủ động đóng góp tại các cơ chế đa phương, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; kiên trì triết lý “chọn chính nghĩa, không chọn bên”. Trên nền tảng đó, câu chuyện “Việt Nam – đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm và tiếng nói xây dựng vì hòa bình” là một thông điệp phù hợp và có sức lan tỏa.
Từ ba cấu phần trên, cách hiệu quả nhất là kể một câu chuyện tích hợp, phản ánh trọn vẹn bản sắc và con đường phát triển của đất nước. Câu chuyện đó có thể là: “Việt Nam – quốc gia kiên cường, thân thiện, vì hòa bình và phát triển”.
TS PHẠM THỊ YÊN (giảng viên bộ môn Quan hệ đối ngoại, Trường ĐH Sài Gòn)
Nguồn: https://plo.vn/kim-chi-nam-cho-ngoai-giao-viet-nam-giua-the-gioi-bien-dong-post891814.html

