
Thaco Chu Lai ứng dụng robot, tiết kiệm nhân lực, nâng cao hiệu suất sản xuất – Ảnh: HỮU HẠNH
Tuy vậy khi bước vào giai đoạn phát triển mới, những động lực tăng trưởng truyền thống đang dần chạm trần. Đại hội Đảng XIV vì vậy được kỳ vọng không chỉ đặt ra mục tiêu tăng trưởng, mà xác lập con đường để nền kinh tế vượt qua “ngưỡng phát triển” và bước vào kỷ nguyên mới.
Quy mô nền kinh tế tăng hàng chục lần
Chia sẻ với báo Tuổi Trẻ, GS.TS Vũ Văn Hiền – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội khóa XII – cho rằng quyết định đổi mới từ Đại hội VI đã mở ra bước ngoặt lịch sử. Việc chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập và cải cách thể chế đã tạo động lực tăng trưởng liên tục trong nhiều thập niên. Quy mô nền kinh tế Việt Nam tăng hàng chục lần so với thời điểm bắt đầu đổi mới.
Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2025 đã tiệm cận mức 5.000 USD, đưa Việt Nam tiến gần ngưỡng nước có thu nhập trung bình cao. Cùng với đó, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ. Tỉ trọng nông nghiệp trong GDP giảm từ trên 40% xuống còn dưới 15%, trong khi công nghiệp và dịch vụ trở thành hai trụ cột chính của tăng trưởng. Việt Nam từ chỗ thiếu lương thực đã vươn lên trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới.
Ông Hiền cho rằng hội nhập kinh tế quốc tế là điểm sáng nổi bật. Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 ước đạt hơn 900 tỉ USD, gấp hàng trăm lần so với đầu thập niên 1990. Việt Nam đã ký kết và thực thi nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Tổng vốn FDI đăng ký đến năm 2023 đạt hơn 450 tỉ USD, đóng góp lớn vào tăng trưởng công nghiệp và xuất khẩu.
Những thành tựu kinh tế kéo theo tiến bộ xã hội rõ nét. Tỉ lệ hộ nghèo giảm mạnh, từ trên 50% đầu thập niên 1990 xuống còn quanh mức 1% theo chuẩn nghèo đa chiều những năm gần đây. Tuổi thọ trung bình của người dân tăng từ khoảng 62 tuổi lên trên 74 tuổi. Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia giảm nghèo nhanh và bền vững nhất trong vài thập niên qua.

Vai trò đầu tàu và tính lan tỏa vùng của TP.HCM được đánh giá là ngày càng rõ nét – Ảnh: HỮU HẠNH
Khi thành tựu cũng trở thành giới hạn
Bên cạnh những thành tựu to lớn đó, nhiều chuyên gia có chung nhận định Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức mới trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và biến đổi khí hậu. Nhìn thẳng vào cấu trúc tăng trưởng, giới phân tích còn chỉ ra nhiều dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang tiến gần một “ngưỡng phát triển” mới.
Theo TS Vũ Thành Tự Anh – nguyên thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng, giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, mô hình tăng trưởng thâm dụng vốn và lao động giá rẻ đã giúp Việt Nam tăng tốc giai đoạn đầu nhưng đã bộc lộ các dấu hiệu tới hạn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất đạt 9,5% vào năm 1995, sau đó liên tục đi xuống, mỗi thập niên lại giảm khoảng 1 điểm phần trăm.
Động lực tăng trưởng cũ dần cạn kiệt khi tốc độ tăng năng suất đình trệ và dân số bắt đầu già hóa. Hai thập niên trước, lực lượng lao động tăng xấp xỉ 2%/năm, nay chỉ còn khoảng 0,5% và tiến tới tăng trưởng âm. Việc thiếu lao động trẻ, nền kinh tế buộc phải nâng cao năng suất để bù đắp thì mới duy trì được đà tăng trưởng cao. Gia tăng năng suất, vì vậy, là bài toán lớn nhất của mô hình tăng trưởng trong kỷ nguyên mới.
Theo ông Anh, nếu không nhanh chóng chuyển đổi mô hình, Việt Nam sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình và sẽ “già trước khi giàu”. Nếu không thay đổi căn bản mô hình phát triển hiện tại, nền kinh tế sẽ “chìm đắm trong mô hình Đông Nam Á” – tăng trưởng không tệ, nhưng trì trệ ở mức trung bình thay vì vươn tới tầm của các nước Đông Bắc Á phát triển. Đó là rủi ro lớn nhất: chậm cải cách sẽ khiến ta bỏ lỡ cơ hội bứt phá và khó đạt mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Đại hội XIV vì vậy không chỉ là thời điểm nhìn lại chặng đường đã qua, mà là cơ hội để Việt Nam đưa ra những lựa chọn phát triển mang tính quyết định cho tương lai. Vượt qua “ngưỡng phát triển” sẽ đòi hỏi những cải cách đủ mạnh về thể chế, môi trường kinh doanh và chất lượng nguồn nhân lực. Đó không chỉ là kỳ vọng của giới chuyên gia mà còn là mong đợi của cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội.

Nguồn: Cục Thống kê, Nghị quyết phát triển kinh tế xã hội 2026 của Quốc hội – Tổng hợp: CÔNG TRIỆU – Đồ họa: TUẤN ANH
Đại hội XIV và kỳ vọng vượt “ngưỡng phát triển”
Chính trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng XIV được nhìn nhận như một dấu mốc quan trọng không chỉ để tổng kết thành tựu, mà để xác lập định hướng phát triển cho giai đoạn mới.
Theo TS Vũ Thành Tự Anh, cải cách thể chế toàn diện là ưu tiên quan trọng nhất nếu Việt Nam muốn chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên chất lượng thay vì số lượng. Muốn đạt đến thịnh vượng, năng lực Nhà nước phải tiến hóa để theo kịp sự phát triển của thị trường và cạnh tranh toàn cầu.
Trong quá trình này, cần duy trì sự cân bằng tinh tế giữa quyền lực nhà nước và sức sống của thị trường và xã hội: Nhà nước phải có năng lực và đủ mạnh để duy trì trật tự, cung cấp hàng hóa công nhưng cũng phải chịu sự giám sát từ xã hội để tránh lạm quyền.
Đồng thời cần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại, lấy khu vực tư nhân làm động lực chính và xây dựng năng lực cho Nhà nước kiến tạo phát triển với bộ máy công vụ chuyên nghiệp, minh bạch, trách nhiệm giải trình.
Phải cải tổ luật pháp và quản trị quốc gia nhằm bảo vệ quyền tài sản, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Cuối cùng, phải giải phóng để nâng cấp nền giáo dục quốc gia tương xứng với yêu cầu của thời đại và khát vọng phát triển của đất nước.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Phạm Quang Anh – Giám đốc Công ty TNHH sản xuất may mặc Dony – cho rằng điều mà một doanh nghiệp vừa và nhỏ cần nhất là một môi trường pháp lý rõ ràng, dễ dự báo, nơi luật pháp được thực thi thống nhất giữa các cấp, các địa phương.
Nhiều doanh nghiệp khác trong ngành xây dựng, công nghệ kỳ vọng Đại hội XIV sẽ làm rõ hơn lựa chọn mô hình tăng trưởng cho giai đoạn tới. Song song đó, phát triển đồng bộ các thị trường, đặc biệt là thị trường vốn, được coi là điều kiện then chốt để cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực. Khi doanh nghiệp có thêm kênh huy động vốn dài hạn ngoài tín dụng ngân hàng, họ sẽ có điều kiện đầu tư nhiều hơn cho công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất.

Nền kinh tế cần chuyển sang giai đoạn phát triển dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực. Trong ảnh: sinh viên TP.HCM trải nghiệm robot tại Ngày hội Sinh viên sáng tạo – Ảnh: CÔNG TRIỆU
Tiếp tục cải cách thể chế
GS.TS Vũ Văn Hiền cho rằng dù đã có nhiều cải cách, thể chế kinh tế thị trường của Việt Nam vẫn chưa thật hoàn thiện. Tình trạng chồng chéo pháp luật, thủ tục hành chính rườm rà, năng lực quản lý nhà nước chưa đồng đều vẫn là rào cản đối với phát triển. Việc nâng cao hiệu quả quản trị, minh bạch hóa và phòng chống tham nhũng cần tiếp tục được đẩy mạnh.
Tháo điểm nghẽn cốt lõi
Theo TS Vũ Thành Tự Anh, hiện có một điểm nghẽn cốt lõi là đa phần doanh nghiệp Việt Nam quy mô quá nhỏ, nguồn lực thiếu, liên kết yếu nên khó vươn lên các khâu giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng.
Chính sách hiện nay lại gom chung mọi loại hình doanh nghiệp khiến “chiếc thuyền thúng” nhỏ khó bám vào “tàu lớn” của tập đoàn – cả Nhà nước, tư nhân trong nước và FDI để ra biển lớn. Thực tế doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ có thể trưởng thành khi kết nối được với doanh nghiệp lớn, từng bước leo lên nấc thang giá trị như cách nhiều SMEs của Đài Loan đã phát triển thành công.
Để khắc phục, theo ông Anh, Nhà nước phải tháo gỡ các rào cản và cải cách mạnh mẽ môi trường kinh doanh theo hướng minh bạch, công bằng, ổn định để giúp doanh nghiệp yên tâm mở rộng đầu tư.

Mô hình tăng trưởng thâm dụng vốn và lao động giá rẻ giúp Việt Nam tăng tốc giai đoạn đầu nhưng đang bộc lộ các dấu hiệu tới hạn. Trong ảnh: sinh viên học chương trình đào tạo chất lượng cao tại một trường đại học ở TP.HCM – Ảnh: CÔNG TRIỆU
* ThS Nguyễn Trúc Vân (Giám đốc Trung tâm Mô phỏng và Dự báo kinh tế – xã hội TP.HCM, trực thuộc Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM):
Vai trò đầu tàu và tính lan tỏa vùng của TP.HCM ngày càng rõ nét

Nhìn lại giai đoạn 2021 – 2025, có thể thấy bức tranh phát triển của riêng TP.HCM và vùng đô thị động lực phía Nam mang nhiều gam màu tích cực dù chịu tác động nặng nề từ đại dịch và biến động toàn cầu.
Thứ nhất, nền tảng kinh tế vĩ mô được giữ vững, thể hiện qua thu ngân sách vượt kế hoạch, khả năng thu hút FDI lớn và xuất khẩu duy trì quy mô cao, thị trường ngày càng đa dạng nhờ tận dụng các FTA.
Thứ hai, vai trò đầu tàu và tính lan tỏa vùng ngày càng rõ nét. TP.HCM giữ vị thế trung tâm kinh tế – tài chính và đổi mới sáng tạo. Bình Dương (cũ) khẳng định là cực tăng trưởng công nghiệp công nghệ cao. Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) nổi lên với mô hình phát triển dựa trên công nghiệp, cảng biển và du lịch.
Thứ ba, đột phá về thể chế và quản trị được xem là điểm nhấn quan trọng. Việc triển khai nghị quyết 98 sửa đổi cùng mô hình chính quyền đô thị, cải cách hành chính, chuyển đổi số đã mở rộng không gian chủ động cho TP.HCM, cải thiện môi trường đầu tư và chất lượng điều hành.
Cuối cùng, tôi đánh giá cao cách tiếp cận phát triển hài hòa kinh tế – xã hội – quốc phòng – an ninh – đối ngoại, trong đó con người, chất lượng sống và an ninh bền vững được đặt ở vị trí trung tâm. Đây chính là nền tảng quan trọng để vùng đô thị này bước sang giai đoạn phát triển mới, không chỉ nhanh hơn mà còn bền vững và có chiều sâu hơn.
* Nghiên cứu sinh Nguyễn Nam Trung (CEO Công ty insAI Vietnam, Trưởng ngành fintech Trường ĐH Kinh tế – Tài chính TP.HCM):
“Mũi khoan” đầu tư công

Dưới góc độ nghiên cứu tài chính, việc các chuyên gia khác cùng cho rằng chính sách tiền tệ đang “vượt ngưỡng trần” là hoàn toàn có cơ sở thực tế.
Ngân hàng Nhà nước hiện đang phải giải một bài toán cực khó với “tam giác bất khả thi”: vừa phải giữ lãi suất thấp để hỗ trợ tăng trưởng, vừa phải ổn định tỉ giá trước sức ép của đồng USD, lại vừa phải đảm bảo an toàn hệ thống khi nợ xấu có xu hướng gia tăng.
Thực tế dư địa để giảm thêm lãi suất gần như đã cạn kiệt, nếu cố ép giảm sâu hơn sẽ dễ dẫn đến rủi ro “bẫy thanh khoản” – nơi tiền không chảy vào sản xuất mà quay sang đầu cơ tài sản như vàng hay ngoại tệ, gây bất ổn vĩ mô.
Giai đoạn 2025 – 2026 sẽ là thời điểm của sự “tinh chỉnh” thay vì “mở rộng” ồ ạt. Khi chính sách tiền tệ đã làm tròn vai trò “cứu hỏa” và chạm đến giới hạn hiệu quả, chúng ta cần một sự chuyển giao vai trò sang chính sách tài khóa. Đầu tư công lúc này phải đóng vai trò là “mũi khoan” chính để phá vỡ bế tắc, tạo hiệu ứng mồi cho dòng vốn xã hội.
Việc quá kỳ vọng vào việc nới lỏng tiền tệ để thúc đẩy tăng trưởng trong lúc này có thể là một liều thuốc quá liều, gây hệ lụy dài hạn cho lạm phát và sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia.
* Ông Lê Hoàng Nhật (Tổng giám đốc AirCity):
Rời bỏ mô hình lao động giá rẻ

Mục tiêu tăng năng suất lao động bình quân lên 8,5% mang ý nghĩa rất lớn trong bối cảnh Việt Nam đang bước qua “ngưỡng phát triển” mới. Bởi khi dư địa tăng trưởng dựa trên lao động giá rẻ và mở rộng quy mô đã dần cạn, việc nâng cao năng suất không còn là lựa chọn mà là điều kiện sống còn để duy trì tốc độ tăng trưởng.
Dưới góc độ là một doanh nghiệp công nghệ bất động sản, chỉ số này phản ánh rõ một xu hướng: lao động tương lai không còn được định nghĩa bằng số lượng, mà bằng giá trị tạo ra trên mỗi người lao động. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển buộc phải đầu tư vào công nghệ, tự động hóa và nâng cao kỹ năng cho đội ngũ nhân sự, thay vì chỉ dựa vào nhân công giá rẻ.
Theo tôi, mục tiêu năng suất 8,5% cũng đặt ra yêu cầu song hành về thể chế và nguồn nhân lực. Nhà nước cần tạo môi trường khuyến khích đổi mới sáng tạo, trong khi doanh nghiệp phải chủ động tái cấu trúc mô hình kinh doanh, đầu tư vào con người và công nghệ. Chỉ khi năng suất tăng nhờ chất lượng lao động và công nghệ, tăng trưởng mới thực sự bền vững.
Đọc tiếp
Về trang Chủ đề
Nguồn: https://tuoitre.vn/kinh-te-viet-nam-truoc-nguong-phat-trien-quyet-dinh-20260117084720514.htm

