15 ngân hàng niêm yết lãi suất kịch trần đối với kỳ hạn dưới 6 tháng
Sau đợt tăng mạnh vào cuối năm 2025 và đầu năm 2026, nhiều ngân hàng hiện niêm yết lãi suất tiết kiệm 4,75%/năm – mức kịch trần theo quy định hiện hành đối với tiền gửi dưới 6 tháng. Diễn biến này cho thấy áp lực huy động vốn đang gia tăng rõ rệt, đặc biệt kỳ hạn ngắn, trong bối cảnh hệ thống ngân hàng bước vào giai đoạn chuẩn bị nguồn lực cho chu kỳ tín dụng mới.
Theo khảo sát biểu lãi suất huy động niêm yết tại các ngân hàng, có 15 ngân hàng đang áp dụng mức lãi suất 4,75%/năm cho các kỳ hạn gửi dưới 6 tháng là: BAOVIETBANK, BVBank, LPBank, MBV, Nam A Bank, OCB, PGBank, PVComBank, Sacombank, Techcombank, TPBank, VCBNEO, VIB, NCB và VPBank.
Ngoài ra, một số ngân hàng cũng niêm yết sát mức này là VikkiBank (4,7%/năm), ACB (4,65%/năm), MB (4,65%/năm), SHB (4,65%/năm).
| NGÂN HÀNG | Lãi suất cao nhất dành cho tiền gửi dưới 6 tháng (%/năm) |
| BAOVIETBANK | 4,75 |
| BVBANK | 4,75 |
| LPBANK | 4,75 |
| MBV | 4,75 |
| NAM A BANK | 4,75 |
| OCB | 4,75 |
| PGBANK | 4,75 |
| PVCOMBANK | 4,75 |
| SACOMBANK | 4,75 |
| TECHCOMBANK | 4,75 |
| TPBANK | 4,75 |
| VCBNEO | 4,75 |
| VIB | 4,75 |
| VPBANK | 4,75 |
| NCB | 4,75 |
| VIKKI BANK | 4,7 |
| ACB | 4,65 |
| MB | 4,65 |
| SHB |
4,65 |
Việc neo lãi suất ngắn hạn ở mức kịch trần phản ánh thực tế rằng nhiều ngân hàng không còn nhiều “room” cạnh tranh bằng giá tại các kỳ hạn ngắn. Trong điều kiện trần lãi suất tiền gửi dưới 6 tháng vẫn được duy trì, bất kỳ sự gia tăng nào tiếp theo nếu có cũng chỉ có thể diễn ra ở kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, hoặc thông qua các hình thức cộng thêm ngoài biểu lãi suất niêm yết (như tiền gửi lớn, chương trình ưu đãi).
Dù nhiều ngân hàng niêm yết lãi suất 4,75%/năm, nhóm ngân hàng lớn như Agribank, Vietcombank, VietinBank hay BIDV vẫn duy trì lãi suất dưới 6 tháng thấp hơn đáng kể, chỉ từ 2,4–2,9%/năm. Điều này cho thấy sự phân hóa rõ nét về vị thế thanh khoản: ngân hàng lớn không cần chạy đua lãi suất, trong khi nhóm ngân hàng thương mại cổ phần phải chấp nhận biên lợi nhuận thấp hơn để đổi lấy nguồn vốn ngắn hạn.
Khi kỳ hạn ngắn đã “chạm trần”, trọng tâm cạnh tranh nhiều khả năng sẽ tiếp tục dịch chuyển sang kỳ hạn 6–12 tháng và 18 tháng – nơi không bị áp trần lãi suất. Thực tế, một số ngân hàng nhỏ đã niêm yết lãi suất trên 7%/năm ở kỳ hạn dài.
Lãi suất huy động duy trì ở vùng thấp từ giữa năm 2024 cho đến tháng 9/2025, với mức bình quân lãi suất kỳ hạn 12 tháng đạt 5%/năm, sau đó bắt đầu tăng mạnh từ tháng 10. Xu hướng tăng này tiếp tục tăng đến cuối năm 2025.
Theo giới chuyên môn, việc các ngân hàng tăng lãi suất huy động trên diện rộng trong thời gian vừa qua là nhằm đáp ứng nhu cầu vốn tăng cao dịp cuối năm và thu hẹp chênh lệch giữa tăng trưởng huy động – cho vay. Số liệu mới đây từ Ngân hàng Nhà nước cho biết, tính từ đầu năm đến ngày 24/12/2025, tăng trưởng huy động vốn của hệ thống ngân hàng đạt 14,11%, trong khi tăng trưởng tín dụng đạt 17,87%, dự báo đạt trên 19% trong cả năm 2025.
Lãi suất huy động được dự báo tiếp tục tăng trong năm 2026
Tại báo cáo Triển vọng Việt Nam 2026, MBS dự báo lãi suất huy động 12 tháng có thể sẽ tiếp tục tăng thêm 0,5 điểm % trong năm 2026 do ba nguyên nhân chính.
Thứ nhất, nới rộng chênh lệch cho vay và tiền gửi tại các ngân hàng thương mại. Nhu cầu vốn của nền kinh tế được dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh trong 5 năm tới, với mục tiêu nâng tỷ lệ tổng vốn đầu tư toàn xã hội/GDP từ 32% lên 40%.
MBS dự báo tăng trưởng tín dụng sẽ duy trì mức 20% trong năm 2026. Trong khi đó tiền gửi đang dịch chuyển sang các kênh đầu tư ít thanh khoản khác như vàng, USD, bất động sản làm tốc độ vòng quay vốn trong nền kinh tế chậm lại.
Thứ hai, chênh lệch cấu trúc kỳ hạn giữa huy động và cho vay. Hiện nay tỷ lệ tiền gửi kỳ hạn ngắn (dưới 6 tháng) vẫn đang chiếm tỷ lệ chủ đạo 80% tổng tiền gửi hệ thống, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn cho kế hoạch đầu tư hạ tầng là rất lớn, dẫn đến áp lực thiếu hụt vốn dài trong hệ thống.
Thứ ba, chất lượng tài sản chưa cải thiện. Tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ nợ nhóm 2 toàn ngành tại cuối quý III/2025 đạt lần lượt 2% tăng nhẹ so với cuối năm 2024. Tỷ lệ bao nợ xấu toàn ngành toàn ngành đạt 84,3% tại cuối quý III/2025, thấp hơn so với so với mức 91,4% cuối năm 2024.
Nợ xấu vẫn đang duy trì ở mức cao, trong khi tỷ lệ bao phủ đang giảm cho thấy áp lực trích lập dự phòng của ngân hàng thương mại tiếp tục tăng lên trong tương lai. Đây cũng là một yếu tố khiến lãi suất khó giảm trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, MBS cũng lưu ý về tác động có thể xảy ra khi ngân hàng trung ương Nhật tiếp tục tăng lãi suất trong năm 2026, sẽ kích hoạt dòng vốn rẻ tại khu vực Châu Á, trong đó có Việt Nam quay trở lại Nhật Bản, gián tiếp tạo áp lực lên nguồn vốn trong nước.
Trong báo cáo chiến lược mới công bố, Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cũng dự báo lãi suất huy động tăng thêm 0,5 – 1 điểm % trong năm 2026, khi vòng quay tiền tiếp tục giảm xuống mức quanh 0,6 lần, cho thấy tín dụng chưa lan tỏa đến các lĩnh vực sản xuất và đầu tư. Bên cạnh đó, áp lực huy động để đảm bảo tỷ lệ an toàn thanh khoản (LDR, vốn ngắn hạn cho vay trung – dài hạn) có thể diễn ra ở một số ngân hàng thương mại, dẫn đến cuộc đua cạnh tranh lãi suất nhằm giữ chân khách hàng.
Chứng khoán Vietcombank nhận định mặt bằng lãi suất huy động có thể tiếp tục nhích nhẹ khoảng 0,3 – 0,5 điểm % trong nửa đầu năm 2026, do hai yếu tố.
Thứ nhất, các ngân hàng cần chuẩn bị nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng phục vụ hoạt động sản xuất – kinh doanh.
Thứ hai, chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động toàn hệ thống vẫn duy trì ở mức cao, đặc biệt khi tín dụng tăng mạnh trong suốt năm 2025, qua đó tiếp tục tạo áp lực lên lãi suất huy động, nhất là tại các ngân hàng thương mại cổ phần quy mô trung bình và nhỏ.
Sang nửa cuối năm 2026, mặt bằng lãi suất huy động có thể tăng thêm khoảng 0,4 – 0,5 điểm % và tiếp tục xuất hiện sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm ngân hàng.
Đối với nhóm ngân hàng quốc doanh, nhiều ngân hàng đã chủ động tăng lãi suất huy động khoảng 0,3 – 0,6 điểm % trong tháng 12/2025 nhằm chuẩn bị thanh khoản cho nhu cầu tín dụng cuối năm 2025 và năm 2026 khi Thông tư 26 hết hiệu lực.
Tuy vậy, lãi suất huy động tại nhóm này được kỳ vọng sẽ duy trì đi ngang trong năm 2026, phù hợp với định hướng hỗ trợ nền kinh tế của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Ngoài ra, nhờ lợi thế về nguồn tiền gửi ổn định và vị thế trên thị trường trái phiếu, áp lực thanh khoản cũng như chi phí huy động của nhóm ngân hàng quốc doanh được đánh giá là không quá lớn.
Trong khi đó, nhóm ngân hàng tư nhân sẽ đối mặt với áp lực tăng lãi suất huy động lớn hơn nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Áp lực này đặc biệt rõ nét tại các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào tiền gửi khách hàng, có cơ cấu nguồn vốn kém linh hoạt; các ngân hàng có tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn tăng nhanh, buộc phải đẩy mạnh huy động vốn trung – dài hạn để cân đối nguồn vốn; cũng như các ngân hàng quy mô nhỏ có thanh khoản phụ thuộc lớn vào nguồn vốn ngắn hạn và thị trường liên ngân hàng.
Theo VCBS, áp lực tăng lãi suất huy động sẽ nhẹ hơn tại các ngân hàng có lợi thế CASA cao, linh hoạt trong đa dạng hóa cơ cấu huy động và có khả năng thu hút nguồn vốn ngoại tệ thông qua các khoản vay hợp vốn quốc tế.
Nguồn: https://kenh14.vn/da-co-15-ngan-hang-niem-yet-lai-suat-tiet-kiem-kich-tran-quy-dinh-cua-ngan-hang-nha-nuoc-215260120160708568.chn

