Thứ ba, Tháng hai 17, 2026
HomeThời SựLựa chọn chiến lược của Việt Nam

Lựa chọn chiến lược của Việt Nam

Đi nhanh để sớm bắt kịp, rút ngắn khoảng cách với thế giới. Hay đi xa để phát triển bền vững, không phải trả giá bằng những hệ lụy kéo dài nhiều thế hệ.

Lựa chọn chiến lược của Việt Nam- Ảnh 1.
Lựa chọn chiến lược của Việt Nam- Ảnh 2.

Muốn đi xa, Việt Nam cần một đột phá mới. Đó là đột phá về hành động 

Ảnh: Độc Lập – Ngọc Dương

Với Việt Nam hôm nay, câu hỏi ấy không còn mang tính lý thuyết. Sau gần 4 thập niên Đổi mới, đất nước đã bước ra khỏi đói nghèo, trở thành nền kinh tế có độ mở cao, hội nhập sâu rộng và đang tiến gần ngưỡng thu nhập trung bình cao. Những con số tăng trưởng ấn tượng trong nhiều năm liền cho thấy khát vọng vươn lên mạnh mẽ của cả dân tộc. Tuy nhiên, chính ở thời điểm tăng tốc này, bài toán đặt ra không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn, mà là phát triển thông minh hơn để đi được rất xa trên con đường thịnh vượng.

Những “cái bẫy” của phát triển nhanh

Lịch sử phát triển của thế giới cho thấy không ít quốc gia từng “cất cánh” ngoạn mục trong một thời gian ngắn, nhưng sau đó phải trả giá đắt để sửa sai. Mô hình tăng trưởng dựa vào tốc độ, nếu thiếu nền tảng bền vững, thường để lại những hệ lụy kéo dài hơn cả giai đoạn tăng trưởng.

Có quốc gia tăng trưởng cao nhưng rơi vào bẫy môi trường; có quốc gia giàu lên nhanh nhưng xã hội phân hóa sâu sắc; có quốc gia đầu tư ồ ạt nhưng hiệu quả thấp, để lại nợ công lớn và những dự án dang dở. Việt Nam không đứng ngoài nguy cơ ấy. Nếu không tỉnh táo, chúng ta có thể đối mặt với ít nhất 4 “cái bẫy” quen thuộc.

Thứ nhất là bẫy tăng trưởng nóng. Nhiều nền kinh tế Đông Á và Mỹ Latin trong thập niên 1980 – 1990 từng đạt tốc độ tăng trưởng rất cao nhờ mở rộng đầu tư và tín dụng, nhưng thiếu kiểm soát chất lượng. Hệ quả là bong bóng tài sản, khủng hoảng tài chính và suy thoái kéo dài. Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 là một minh chứng điển hình khác: tăng trưởng nhanh trong nhiều năm liền đã che lấp những yếu kém về quản trị, nợ xấu và hiệu quả đầu tư. Khi cú sốc xảy ra, nền tảng yếu đã khiến nền kinh tế bị tổn thương nặng nề.

Tăng trưởng cao trong vài năm có thể tạo cảm giác thành công, nhưng nếu dựa trên đầu tư dàn trải, hiệu quả thấp, thì rủi ro tích tụ sẽ bộc lộ muộn hơn. Và cái giá phải trả thường rất lớn.

Thứ hai là bẫy tài nguyên và môi trường. Nhiều quốc gia giàu tài nguyên từng tăng trưởng nhanh nhờ khai thác mạnh mẽ đất đai, khoáng sản và năng lượng rẻ. Tuy nhiên, mô hình này sớm bộc lộ giới hạn.

Lựa chọn chiến lược của Việt Nam- Ảnh 3.

Con người – lời giải dài hạn cho phát triển bền vững

Ô nhiễm môi trường, suy thoái hệ sinh thái và chi phí khắc phục ngày càng cao đã làm xói mòn thành quả tăng trưởng. Trung Quốc, sau nhiều thập niên phát triển thần tốc, buộc phải điều chỉnh chiến lược khi ô nhiễm không khí, nước và đất đai trở thành vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân và chất lượng sống.

Thực tiễn đó cho thấy tăng trưởng nếu đánh đổi môi trường sẽ làm nghèo tương lai, bởi chi phí phục hồi luôn lớn hơn rất nhiều so với lợi ích ngắn hạn thu được.

Thứ ba là bẫy năng suất thấp. Không ít nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao nhờ lợi thế lao động giá rẻ và dòng vốn đầu tư lớn, nhưng lại chậm chuyển sang mô hình dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và công nghệ. Khi tiền lương tăng lên và lợi thế chi phí mất dần, tăng trưởng chững lại – trạng thái thường được gọi là “bẫy thu nhập trung bình”. Nhiều quốc gia Mỹ Latin đã mắc kẹt trong tình trạng này suốt hàng chục năm. Bài học rút ra rất rõ ràng là tăng trưởng không đi kèm nâng cao năng suất thì sớm hay muộn cũng sẽ chạm trần.

Thứ tư là bẫy bất bình đẳng và đứt gãy xã hội. Tăng trưởng nhanh nhưng không bao trùm có thể làm gia tăng khoảng cách giàu – nghèo, chênh lệch vùng miền và cơ hội tiếp cận dịch vụ công. Nhiều quốc gia từng đạt mức thu nhập cao nhưng phải đối mặt với bất ổn xã hội do bất bình đẳng kéo dài. Khi thành quả phát triển không được phân bổ hài hòa, niềm tin xã hội suy giảm, chi phí duy trì ổn định tăng lên và chính tăng trưởng cũng bị ảnh hưởng. Thịnh vượng thực sự không thể tồn tại nếu phần lớn người dân cảm thấy bị bỏ lại phía sau.

Những cái bẫy này không xuất phát từ thiếu khát vọng, mà từ việc tiếp tục vận hành tư duy phát triển cũ trong bối cảnh mới, khi thế giới đã bước sang giai đoạn cạnh tranh dựa trên chất lượng tăng trưởng, tính bền vững và năng lực thích ứng. Và đó chính là lý do vì sao Việt Nam cần một lựa chọn chiến lược khác: không chỉ đi nhanh, mà phải đi xa.

Đi nhanh là cần thiết để không tụt hậu. Nhưng chỉ đi xa mới giúp một quốc gia bền bỉ, vững vàng và thịnh vượng bền lâu. Đi xa là lựa chọn của bản lĩnh, của tầm nhìn dài hạn và của trách nhiệm với các thế hệ tương lai.

Nền móng của kỷ nguyên thịnh vượng

Trong giai đoạn gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều quyết sách lớn, tạo nên những trụ cột chiến lược cho chặng đường phát triển mới. Trọng tâm là 3 đột phá chiến lược – thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực.

Đột phá về thể chế là đột phá của mọi đột phá bởi nó quyết định khuôn khổ vận hành của toàn xã hội. Thể chế tốt không chỉ cắt giảm thủ tục. Quan trọng hơn, nó tạo ra tính dự đoán được – điều kiện cần để nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân dám mạo hiểm, dám đầu tư dài hạn và dám đổi mới. Khi quy tắc rõ ràng, thực thi nhất quán, chi phí giao dịch giảm xuống, nguồn lực “nằm im” trong xã hội bắt đầu được kích hoạt. 

Chuyển đổi cốt lõi ở đây là từ tư duy “quản lý rủi ro” sang “kiến tạo cơ hội”, từ cơ chế “xin – cho” sang “công khai, chuẩn mực, trách nhiệm giải trình”. Và chính sự chuyển đổi ấy tạo nên niềm tin thị trường – thứ vốn vô hình nhưng có sức mạnh hữu hình: nó quyết định dòng vốn, quyết định động lực khởi nghiệp và quyết định cả tinh thần hợp tác trong xã hội.

Lựa chọn chiến lược của Việt Nam- Ảnh 4.

Thịnh vượng, bền vững được tạo ra từ chính trí tuệ, kỹ năng, kỷ luật và phẩm chất của con người Việt Nam

Đột phá về hạ tầng ngày nay cũng phải được hiểu theo nghĩa mới. Hạ tầng không còn chỉ là đường, cảng, sân bay; mà là năng lực kết nối của nền kinh tế – kết nối người với việc làm, hàng hóa với thị trường, dữ liệu với quyết định, và các vùng với chuỗi giá trị. 

Một nền kinh tế muốn đi xa cần 4 lớp hạ tầng đồng bộ: hạ tầng vật chất để giảm chi phí logistics; hạ tầng số để tăng tốc độ lưu chuyển thông tin và dịch vụ; hạ tầng năng lượng xanh để bảo đảm an ninh năng lượng và khả năng cạnh tranh trong kỷ nguyên giảm phát thải; và hạ tầng kết nối vùng để “mở khóa” lợi thế quy mô, tránh phát triển cục bộ, manh mún. Nói cách khác, hạ tầng hiện đại không chỉ tạo thuận lợi cho tăng trưởng, mà còn nâng sức chống chịu của nền kinh tế trước biến động toàn cầu.

Đột phá về nguồn nhân lực là điều kiện quyết định để đổi mới mô hình tăng trưởng, bởi tăng trưởng nhanh có thể mua bằng vốn, nhưng thịnh vượng bền vững chỉ có thể tạo ra bằng năng suất. Và năng suất, xét đến cùng, là sản phẩm của con người: kỹ năng nghề, năng lực công nghệ, kỷ luật lao động, khả năng quản trị, tinh thần đổi mới và văn hóa học tập suốt đời. 

Khi lao động không chỉ “đông” mà “tinh”, nền kinh tế mới có thể chuyển từ gia công sang sáng tạo, từ cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh bằng chất lượng, từ tham gia chuỗi giá trị sang từng bước nắm giữ những khâu có giá trị cao hơn. Ở tầng sâu hơn, nguồn nhân lực còn là năng lực “tự nâng cấp” của quốc gia: học nhanh hơn, thích ứng nhanh hơn, và làm chủ công nghệ tốt hơn.

Ba đột phá nói trên chính là nền tảng để chúng ta không chỉ đi nhanh và còn đi xa, rất xa.

Đột phá quyết định là đột phá về hành động

Trong thực tế, không ít quốc gia có chiến lược rất hay, nghị quyết rất đúng, nhưng kết quả lại không như mong muốn. Nguyên nhân không nằm ở tầm nhìn, mà ở chất lượng hành động.

Muốn đi xa, Việt Nam cần một đột phá mới. Đó là đột phá về hành động.

Trước hết là cần nâng cao chất lượng thực thi chính sách. Chính sách không chỉ cần ban hành nhanh, mà quan trọng hơn là phải được thực hiện nhất quán, thông suốt từ T.Ư đến địa phương. Một chính sách tốt nhưng thực thi kém có thể gây tác động tiêu cực không kém gì một chính sách sai.

Tiếp đến là tăng cường kỷ luật phát triển. Kỷ luật ở đây không chỉ là kỷ luật tài chính hay ngân sách, mà là kỷ luật trong lựa chọn ưu tiên, trong đầu tư công, trong sử dụng tài nguyên và trong quản lý rủi ro. Đi xa đòi hỏi sự kiên nhẫn chiến lược, không chạy theo phong trào, không đánh đổi tương lai lấy tăng trưởng ngắn hạn.

Quan trọng không kém là nâng cao năng lực điều hành quốc gia. Trong kỷ nguyên số và toàn cầu hóa, quyết định công không thể chỉ dựa vào cảm tính hay kinh nghiệm đơn lẻ, mà phải dựa trên dữ liệu, phân tích và phối hợp liên ngành. Một nhà nước hiện đại là nhà nước biết học hỏi từ chính mình, biết điều chỉnh chính sách dựa trên kết quả đo lường được.

Có thể nói, kỷ nguyên thịnh vượng không được quyết định bởi nghị quyết hay khẩu hiệu, mà bởi chất lượng hành động mỗi ngày của bộ máy công quyền.

Con người – lời giải dài hạn cho phát triển bền vững

Nếu phải tìm một lời giải cốt lõi cho bài toán đi nhanh hay đi xa, thì câu trả lời cuối cùng vẫn nằm ở con người. Lịch sử phát triển của các quốc gia cho thấy tài nguyên có thể cạn kiệt, lợi thế địa chính trị có thể thay đổi, công nghệ có thể bị sao chép, nhưng chất lượng con người và năng lực tổ chức con người mới là yếu tố quyết định một quốc gia có thể đi xa đến đâu.

Trước hết là nhân lực quản trị quốc gia – đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp thiết kế và thực thi chính sách. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy những quốc gia có bộ máy công vụ chuyên nghiệp, liêm chính và có năng lực giải quyết vấn đề thường duy trì được tăng trưởng ổn định trong dài hạn. Singapore thiếu tài nguyên thiên nhiên, nhưng nhờ nền công vụ tinh hoa, đã có thể hoạch định và thực thi chính sách để đất nước hóa rồng.

Tiếp đến là nhân lực doanh nghiệp – cộng đồng doanh nhân giữ vai trò trung tâm trong việc chuyển hóa thể chế và nguồn lực thành của cải xã hội. Nhiều nền kinh tế thành công cho thấy sự khác biệt không nằm ở số lượng doanh nghiệp, mà ở chất lượng doanh nhân. Những doanh nghiệp theo đuổi lợi nhuận ngắn hạn có thể tăng trưởng nhanh, nhưng chính các doanh nghiệp kiên trì đầu tư vào công nghệ, quản trị và con người mới tạo ra giá trị bền vững, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và nâng tầm năng lực quốc gia. Hàn Quốc và Nhật Bản đã xây dựng được những tập đoàn trụ cột không chỉ nhờ vốn, mà nhờ tư duy doanh nhân gắn lợi ích doanh nghiệp với lợi ích quốc gia.

Cuối cùng là nhân lực xã hội – mỗi người lao động, mỗi công dân với tinh thần học tập suốt đời, chủ động thích ứng và sẵn sàng đổi mới. Trong kỷ nguyên chuyển đổi số và biến động toàn cầu, lợi thế cạnh tranh không còn nằm ở chi phí lao động thấp, mà ở khả năng học nhanh hơn, thích ứng nhanh hơn và làm chủ công nghệ tốt hơn. Các quốc gia Bắc Âu, dù dân số không lớn, vẫn duy trì mức sống cao nhờ đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho toàn xã hội.

Tóm lại, thịnh vượng, bền vững không thể nhập khẩu. Nó không đến từ việc sao chép mô hình hay mua công nghệ, mà phải được tạo ra từ chính trí tuệ, kỹ năng, kỷ luật và phẩm chất của con người Việt Nam.

Từ mùa xuân khát vọng đến kỷ nguyên thịnh vượng

Mỗi mùa xuân đến, đất nước lại bước thêm một chặng đường trên hành trình phát triển. Mùa xuân 2026 mở ra trong bối cảnh Việt Nam có vị thế mới, khát vọng mới và những quyết sách lớn chưa từng có. Cơ hội đang ở trước mắt, nhưng cơ hội chỉ trở thành hiện thực khi đi cùng với nó là sự lựa chọn sáng suốt.

Đi nhanh là cần thiết để không tụt hậu. Nhưng chỉ đi xa mới giúp một quốc gia bền bỉ, vững vàng và thịnh vượng bền lâu. Đi xa là lựa chọn của bản lĩnh, của tầm nhìn dài hạn và của trách nhiệm với các thế hệ tương lai.

Khi tư duy đúng đã hình thành, thể chế đã mở đường, hạ tầng đã kết nối và con người đã sẵn sàng hành động, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để bước vào kỷ nguyên thịnh vượng – không phải bằng may mắn, mà bằng trí tuệ, kỷ luật và khát vọng vươn lên của cả dân tộc. 

Nguồn: https://thanhnien.vn/lua-chon-chien-luoc-cua-viet-nam-185260130174527057.htm

ThanhNien Logo

Hello Mình là Cải

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Mới nhất
Cũ nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Tin Nóng Hôm Nay