Nguyễn Tuân kể người thắng cuộc thi thủy tiên – hoa nở đúng giao thừa sẽ lĩnh thưởng “mười vuông vóc hồng, năm cối pháo, một thạp chè bao thiếc”, trong “Tờ hoa”.
Tết ở Hà thành từ lâu đã trở thành nguồn cảm hứng sáng tác cho nhiều nghệ sĩ. Những trang văn viết về đề tài này không chỉ ghi lại khoảnh khắc giao mùa của đất trời mà còn lưu giữ những phong tục văn hóa, phản ánh lối sống và tâm hồn con người thủ đô.
Phong vị Tết hiện diện qua biến chuyển của thời tiết, cảnh sắc thiên nhiên. Với nhà văn Vũ Bằng, người con xa quê, ký ức, cảm xúc về những ngày này được gửi gắm vào tùy bút Thương nhớ mười hai, viết trong giai đoạn từ năm 1960 đến 1971. Ông miêu tả mùa xuân đất Bắc gắn với hình ảnh “mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng”. Không khí ấy khiến nhà văn bày tỏ: “Yêu tháng Chạp không biết bao nhiêu, nhưng yêu nhất là những ngày giáp Tết, thời tiết sao mà đã thế, con mắt tấm lòng sao mà đong đưa thế, lời nói, tiếng chào sao mà duyên dáng tơ mơ thế”.
Dịp Tết, cuộc sống sinh hoạt đời thường của người Hà Nội có nhiều thay đổi. Cùng khắc họa phiên chợ xuân nhưng mỗi nghệ sĩ có góc quan sát. Vũ Bằng, trước cảnh chợ đông đúc, nhộn nhịp, cho rằng “chợ Tết có một sức hấp dẫn kỳ lạ thật: nhìn vào cái gì mình cũng thấy đẹp, trông người nào mình cũng thấy tươi, thấy cái gì mình cũng muốn mua” (Thương nhớ mười hai).
Một góc chợ hoa Hàng Khoai ngày Tết những năm đầu thế kỷ XX. Ảnh tư liệu
Tô Hoài, trong Chuyện cũ Hà Nội – bút ký, tự truyện lịch sử về Hà Nội những năm Pháp thuộc, lại lựa chọn tái hiện nét đặc trưng của chợ Bưởi. Cụ thể, tháng chạp ngày mười chín là “chợ của người có tiền”, còn chợ hai mươi chín là “chợ người nghèo”.
Còn với Thạch Lam, trong những năm đầu thế kỷ 20, nhà văn nhìn thấy khoảng lặng sau những ồn ào, tấp nập kia: “Đêm 29 Tết, vào giờ trước giao thừa… có ai lên trước chợ Đồng Xuân, để nhìn những cái gì còn lại, những cái gì bị khinh bỉ từ chiều? Những cành đào xấu xí, ít hoa; những bát thủy tiên tơi tả, đã chuyền tay hết người này sang người khác mà không được ai mua, những chậu cây cúc và thược dược rã rời và lấm đất. Dưới mưa bụi, bùn đã vấy lên trên những cành đào, mai rải rác trên đường, bao nhiêu bàn chân dày xéo” (Hà Nội băm sáu phố phường).
Đầu năm mới, để cầu bình an và hạnh phúc, người Việt có nhiều phong tục như đi chùa, xin lộc, kiêng điều dữ. Vũ Bằng kể cúng kiến trời đất tổ tiên xong, gia đình ông “đi ra đền Ngọc Sơn, rẽ sang đình Hàng Trống, đi lên Hồ Tây, vào đền Quan Thánh, lễ giao thừa, rồi người thì cầm cành lộc, người cầm hương lộc”. Trong khi đó, Tô Hoài thường chỉ tới lui có những chùa xa, chùa gần: chùa Hương, chùa Quán La, chùa Láng.
Ngoài những tập quán quen thuộc, trang văn xưa lưu giữ thú “ăn” và “chơi” tao nhã của người Hà thành. Trong Miếng ngon Hà Nội, Vũ Bằng nhận định: “Ăn uống là một nghệ thuật? Hơn thế, ăn uống là cả một nền văn hóa đấy”. Nói cách khác, ẩm thực cũng là thước đo chiều sâu văn hóa của dân tộc. Nó không chỉ nằm ở câu chuyện người Hà Nội thành thạo trong chuyện ăn uống mà còn hàm chứa sự thanh lịch, cẩn trọng trong từng khâu lựa chọn, thưởng thức.
Ngày Tết, Vũ Bằng ấn tượng với bánh Xuân Cầu, “lấy lưỡi đẩy một miếng lên khẩu cái, bạn sẽ thấy bánh reo lên nhè nhẹ, tan ra nhè nhẹ; dư vị của mật quyện lấy đầu lưỡi ta; cái béo, cái ngậy, cùng với cái ngọt, cái bùi vuốt ve hầu đầu ta và đem lại cho ta cảm giác đương nghe thấy trong lòng dạo lên một bản nhạc có tiếng đồng chen tiếng sắt”. Hoặc, nói về cốm, món ăn phù hợp để làm quà siêu tết, Thạch Lam dặn dò không vội vàng, “phải ăn từng chút ít, thong thả và ngẫm nghĩ” (Hà Nội băm sáu phố phường).
Cửa hàng bán hoa thủy tiên Tết năm 1929. Ảnh tư liệu
Về thú chơi, nhiều người Hà Nội xưa thích chơi hoa thủy tiên. Phải biết cách chọn lựa, chăm nom, cầu kỳ gọt tỉa, biết hãm nắng phơi sương… để hoa nở đẹp, lý tưởng nhất là đúng giao thừa. Nguyễn Tuân viết về cuộc thi thủy tiên ở đình Bạch Mã: “hoa của ai nở đúng giao thừa thì người ấy lĩnh thưởng mười vuông vóc hồng, năm cối pháo, một thạp chè bao thiếc…” (Tờ hoa)
Sau này, khi viết Một người Hà Nội vào năm 1990, giai đoạn lịch sử có nhiều biến chuyển tích cực lẫn tiêu cực, nhà văn Nguyễn Khải khắc họa chi tiết bà Hiền – người phụ nữ Hà Nội lớn tuổi, sắc sảo, lịch lãm – đang lau đánh bát thủy tiên men đỏ trong căn nhà cổ xưa, tích tụ nhiều tầng văn hóa. Đối mặt với những xáo trộn của cuộc sống, bà vẫn giữ được cốt cách Hà thành thanh tao, bình tâm. Trước hình ảnh đó, nhân vật “tôi” hoài niệm, tiếc nuối trước một nét đẹp văn hóa cổ truyền có nguy cơ bị phai nhạt trước nhịp sống hiện đại, xu hướng đô thị hóa và bày tỏ niềm khao khát về không gian đủ tĩnh để di dưỡng tâm hồn.
Khánh Linh
Nguồn: https://vnexpress.net/tet-ha-thanh-qua-nhung-trang-van-5040802.html

