Thứ năm, Tháng hai 19, 2026
HomeĐời SốngTrần Đăng Khoa với 'tiếng lòng không dễ nói ra'

Trần Đăng Khoa với ‘tiếng lòng không dễ nói ra’

Trần Đăng Khoa sinh ngày 26.4.1958 tại thôn Điền Trì, xã Quốc Tuấn, H.Nam Sách, tỉnh Hải Hưng cũ, vào Hội nhà văn VN năm 1977, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hiện sống ở Hà Nội. Khoa tốt nghiệp Trường viết văn Nguyễn Du và Trường viết văn M.Gorki ở Liên Xô (cũ), từng là lính hải quân, học viên sĩ quan lục quân; thượng tá quân đội; biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội; Trưởng ban Văn hóa – Nghệ thuật Đài tiếng nói Việt Nam; Giám đốc kênh truyền hình Đài tiếng nói Việt Nam; ủy viên Ban chấp hành, Phó chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam.

Từ lúc 7-8 tuổi, Trần Đăng Khoa đã nổi tiếng là “thần đồng thơ”, tập thơ Từ góc sân nhà em in ở NXB Kim Đồng lúc Khoa vừa tròn 10 tuổi. Ngoài thơ, Trần Đăng Khoa còn viết phê bình văn học và văn xuôi. Các tác phẩm đã xuất bản: Từ góc sân nhà em (thơ, 1968); Góc sân và khoảng trời (thơ, 1973; tái bản 168 lần); Thơ Trần Đăng Khoa (tập 1, 1970); Khúc hát người anh hùng (trường ca, 1974); Trừng phạt (trường ca, 1973); Giông bão (trường ca, 1983); Bên cửa sổ máy bay (thơ, 1986; tái bản, bổ sung 2009); Thơ Trần Đăng Khoa (tập 2, 1983); Chân dung và đối thoại (1998); Người thường gặp (2000); Đảo chìm Trường Sa (2016); Đảo chìm (in lần thứ 25, 2009); Hầu chuyện Thượng đế (đàm thoại văn học, 2015) và nhiều tập khác được dịch in ở nước ngoài. Các giải thưởng văn học: Ba lần giải nhất thơ Báo Thiếu niên Tiền Phong (1968, 1969, 1971); Giải A cuộc thi thơ Báo Văn Nghệ (1981-1982); Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đợt I, năm 2001.

Trần Đăng Khoa với 'tiếng lòng không dễ nói ra' - Ảnh 1.

Trần Đăng Khoa hồi mới nhập ngũ

“LÀM ĐƯỢC THƠ HAY, MỘT PHẦN CÒN DO ÔNG GIỜI”

Với bản lý lịch văn học cùng các thành tựu nói trên, tưởng như đường văn nghiệp của Trần Đăng Khoa luôn thuận buồm xuôi gió, gặt hái hết thành công nọ đến thành tích kia, thế nhưng, trên con đường ấy, Khoa từng trải qua nhiều nỗi thăng trầm với sự bi hài không dễ thổ lộ. Hình như chưa bao giờ Khoa nói ra điều ấy và ngay trong bản tự thuật Chân dung tự họa viết về bản thân in trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại, cũng không nhắc đến. Ở bản tự thuật này, với giọng hài hước, nhà thơ trải lòng mình trong đoạn văn có tính giễu nhại như sau:

“Trần Đăng Khoa là con thứ ba trong một gia đình nông dân ở ven sông Kinh Thày. Thuở nhỏ, y từng mơ ước trở thành kỹ sư nông nghiệp và suốt đời làm thơ về làng quê, cảnh quê, những vui buồn của người dân quê nơi xóm mạc. Nhưng rồi, cũng như nhiều thợ cày trong làng, y lên đường nhập ngũ vào những tháng cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và trở thành nhà thơ khoác áo lính. Đối với Trần Đăng Khoa thơ hay là thơ giản dị, xúc động và ám ảnh. Suốt đời, y luôn có ý thức vươn tới loại thơ đó. Tuy nhiên, theo lời y, để làm được điều ấy, một phần còn do ông giời. Nhưng phần ấy là bao nhiêu và ông giời ở đâu, tính khí ông ta thế nào, thì suốt đời y không thể hiểu nổi. Bài thơ đầu tiên của Trần Đăng Khoa được in báo Văn Nghệ tháng 5-1966. Khi đó, y tám tuổi, đang học ở học kỳ 2 lớp 1 trường làng. Bấy giờ, người làm thơ còn ít. Trẻ con làm thơ lại càng ít, nên tự dưng, y thành của hiếm, thành đặc sản. Nhiều người tò mò, vượt hàng trăm cây số bom đạn, lặn lội đến nhà y, chỉ để… xem y như xem… ma quỷ hiện hình. Không ít người còn bắt y xòe tay, ngó đường chỉ, vạch tóc xem xoáy đầu, rồi lặng lẽ ra đi với gương mặt rất bí hiểm. Bây giờ, y đã già và dứt khoát không phải kẻ đắc đạo. Vậy mà y vẫn phải còng lưng, ỳ ạch vác cây thánh giá của cái tuổi trẻ con. Những năm gần đây, ngoài làm thơ, y còn viết báo, viết văn, viết bình luận văn chương và chân dung văn học. Đề tài y quan tâm là các nhà văn và những vấn đề của văn học Việt Nam đương đại. Ngoài những trang viết, mà ở đấy phần nhiều y dồn hết tâm lực, còn ngoài đời, y là tay nhạt nhẽo và tầm phào. Y chẳng đam mê gì, và nói chung, y là gã vô tích sự”.

Trần Đăng Khoa với 'tiếng lòng không dễ nói ra' - Ảnh 2.

Trần Đăng Khoa hồi bé với em gái và nhà thơ Ngô Viết Dinh, Báo Thiếu niên Tiền Phong

Trần Đăng Khoa với 'tiếng lòng không dễ nói ra' - Ảnh 3.

Trần Đăng Khoa đọc thơ với bạn học lớp 4 ở quê

Với bản lý lịch tự thuật có phần tự giễu nêu trên, Trần Đăng Khoa tỏ ra rất hóm hỉnh đồng thời khá bản lĩnh khi “xem thường” mình với nụ cười giễu nhại đậm chất văn chương. Tháng 5.2025, trong một đêm ở Hội An, sau khi dự lễ ra mắt cuốn sách Khát vọng hòa bình do NXB Hội nhà văn ấn hành kỷ niệm 50 năm đất nước thống nhất tại xã Bình Dương, H.Thăng Bình, Quảng Nam (cũ), tôi và Trần Đăng Khoa có dịp hàn huyên về thi ca, về nỗi đời, nỗi người trong ký ức về những tháng năm đã trải qua.

Trần Đăng Khoa kể hồi còn nhỏ, làm thơ năm lên 8 tuổi (1966), mọi người chỉ gọi Khoa là “cháu ngoan Bác Hồ” hoặc “em bé làm thơ” chứ tuyệt nhiên không ai gọi là “thần đồng thơ”. Mãi tới 20 năm sau (1986), bước vào thời kỳ Đổi mới, người ta mới gọi Khoa bằng biệt danh này. Lúc xưa, trên mặt báo, Khoa xuất hiện như một “hiện tượng lạ” và cậu bé chục tuổi rất ngạc nhiên vì nhà lúc nào cũng đông khách tới chơi, ghé thăm và ở lại ăn cơm mà thức ăn chẳng có gì ngoài chút cua cáy bắt ngoài đồng. Lúc bấy giờ, báo chí miền Bắc nhắc đến 2 hiện tượng lạ: Trần Đăng Khoa 8 tuổi làm thơ và Nguyễn Ngọc Ánh “học lớp 2 mà làm được toán lớp 7”. Thơ Khoa làm năm 8-9 tuổi được thầy giáo trường làng gửi cho Báo Văn Nghệ in lần đầu tiên, sau đó nhà văn Nguyễn Xuân Khánh ở Báo Thiếu niên Tiền Phong về tận nhà Khoa lấy thơ về in. Bài thơ đầu tiên in báo là bài Ảnh Bác Khoa viết năm 8 tuổi. “Nhà em treo ảnh Bác Hồ/Dưới là một cái bàn thờ đỏ tươi/Ngày ngày Bác mỉm miệng cười/Bác nhìn chúng cháu vui chơi trong nhà…” được biên tập viên sửa cho một câu: “Nhà em treo ảnh Bác Hồ/Bên trên là một lá cờ đỏ tươi…” in ở trang “Nhi đồng làm thơ” của Báo Văn Nghệ. Lúc đó, nhà thơ Trần Nhuận Minh, anh ruột của Khoa, dạy học dưới Quảng Ninh, ít khi về nhà, cũng không biết em mình có thơ in báo T.Ư.

Khoa kể: “Lúc đó tôi in báo bài Ảnh Bác, mọi người đã ầm ĩ lên rồi. Học lớp 2, thầy giáo lên đường đi bộ đội, cả lớp khóc bịn rịn chia tay, cô giáo gợi ý bảo tôi làm bài thơ chúc thầy “rời tay bút thì chắc tay súng” với mấy câu nôm na như sau: “Rời tay bút thầy ghì tay súng/Trên chiến hào bắt chúng chạy xa/Bao giờ nhớ đến trường ta/Thì thầy đánh Mỹ thật là hăng say”. Mới đây, tôi tình cờ tìm lại được tập thơ chép tay lúc 8-9 tuổi được một cô giáo gửi tặng, trong đó có nhiều bài thơ viết lúc trẻ con hò vè, ngớ ngẩn, viết dở lắm, không dám in báo”.

KHÁCH ĐẾN NHÀ RA ĐỀ, BẮT LÀM THƠ

Rồi Trần Đăng Khoa cười, nụ cười rất hồn nhiên, hiền hậu: “Hồi đó, mọi người đến chơi nhà, đều ra đề như thử thách, bắt tôi làm thơ ngay tại chỗ, thế có khổ tôi không chứ. Họ bảo em hãy viết bài thơ về vườn rau cải nhà em đi, hay viết bài thơ về cây dừa đi, rồi họ chỉ vào bức tranh treo trên tường bảo làm thơ đi. Vậy là tôi trong vòng 5, 15 phút phải làm bằng xong bài thơ. Phần lớn tập thơ Góc sân và khoảng trời tôi viết theo kiểu ấy, thế thì bằng tra tấn nhau rồi nhỉ, khi ngày nào khách đến nhà cũng ra đề, bắt làm thơ”.

Khoa cười hỉ hả: “Hồi đó họ không tin tôi làm được thơ nên mới bắt tôi làm theo kiểu “xuất khẩu thành thơ” vậy đó, thế thì khổ quá đi chứ, nhưng mình hồi đó là trẻ con nên rất hồn nhiên, thấy người lớn bảo sao mình làm vậy cho họ vui lòng”. Rồi Khoa nhẩn nha đọc bài Cây dừa viết năm 1967 là bài thơ bị viết theo kiểu ra đề mà Khoa ưng ý nhất: “Cây dừa xanh tỏa nhiều tàu/Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng/Thân dừa bạc phếch tháng năm/Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao/Đêm hè hoa nở cùng sao/Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh/Ai mang nước ngọt, nước lành/Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa/Tiếng dừa làm dịu nắng trưa/Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo/Trời trong đầy tiếng rì rào/Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra/Đứng canh trời đất bao la/Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi”.

Trần Đăng Khoa với 'tiếng lòng không dễ nói ra' - Ảnh 4.

2 nhà thơ Trần Đăng Khoa và Nguyễn Việt Chiến đi thực tế sáng tác với lực lượng Cảnh sát biển

Khoa tâm sự: “Bác ạ, các bài thơ kiểu ra đề nói trên, có thể nói tôi vẩy tay là làm ra luôn, nhưng đặc biệt có một số bài mà cho đến bây giờ mình có muốn cũng không sao viết lại được, như bài Đêm Côn Sơn. Năm ấy tôi đang học lớp 3, đã cùng các bạn trong lớp và đoàn Báo Thiếu niên Tiền Phong có 2 nhà báo Quản Tập và Cửu Thọ có bút danh là “Bút thép, Bóng nhựa” dẫn lên thăm khu di tích thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Đêm xuống, mọi người cắm trại ngủ ngoài rừng, riêng tôi và mấy người ngủ trong chùa. Nhà báo Quản Tập bảo tôi: “Khoa ơi, ngày mai cháu làm một bài thơ đêm ngủ ở Côn Sơn để tối mai đọc cho các bạn cùng nghe”, tôi nghĩ ông này cũng muốn thử tài mình đây, và tôi viết ngay trong đêm ấy khi tiếng chuông vang nghe như tiếng sấm rền: “Tiếng chim vách núi nhỏ dần/Rì rầm tiếng suối khi gần khi xa/Ngoài thềm rơi cái lá đa/Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng/Mờ mờ ông bụt ngồi nghiêm/Nghĩ gì, ông vẫn ngồi yên lưng đền/Bỗng đâu vang tiếng sấm rền/Tỉnh ra em thấy trong đền đỏ hương/Ngang trời kêu một tiếng chuông/Rừng xưa nổi gió, suối tuôn ào ào/Đồi thông sáng dưới trăng cao/Như hồn Nguyễn Trãi năm nào về thăm/Em nghe có tiếng thơ ngâm/Ngoài kia nòng pháo ướt đầm sương khuya”.

Bài thơ này tôi làm trong khoảng mười mấy phút và ngay sau đó đăng Báo Thiếu niên Tiền Phong. Đây là bài thơ không thể viết lần thứ hai, cũng là bài thơ viết theo kiểu người khác ra đề để thử thách mình thôi. Hồi ấy, tôi làm thơ từ khi học lớp vỡ lòng, tôi làm thơ rất nhanh, bài Hạt gạo làng ta rồi Sao không về Vàng ơi cũng chỉ làm chừng khoảng mười mấy phút. Bài thơ về nỗi buồn mất chó này sau khi đăng báo thì con chó nó lại tìm về nhà, tôi mừng quá viết bài chó về, nhưng thơ không ra gì cả nên không dám in. Tôi thú thật có những bài tôi viết dở lắm, kém lắm. Khổ thế đấy, khách đến chơi nhà, ra đề bắt làm thơ, có ngày tôi làm cả chục bài, thì làm sao mà hay được. Tập thơ Góc sân và khoảng trời tôi viết hồi trẻ con đến giờ đã tái bản 168 lần, chưa kể các nhà sách họ tự in. Vậy là tôi làm thơ liên tục từ vỡ lòng, lớp 1 đến lớp 9, lớp 10 thì viết cả loạt trường ca như Đi đánh thần hạn, Cái phích hoa… và hay nhất là Khúc hát người anh hùng đều trên dưới 3.000 câu, tôi viết như kể chuyện. Năm 1972, tôi đã được mời đi dự trại hè thiếu nhi ở Cuba mà địa phương không cho đi vì thành phần lý lịch có vấn đề…”.

CÂU CHUYỆN LÝ LỊCH

Trần Đăng Khoa chia sẻ thêm hồi nhỏ ngoài làm thơ cũng là học sinh giỏi văn, từng đoạt giải nhất thi văn lớp 7 miền Bắc, đạt 20/20 điểm, bài thi này Khoa cũng đưa thơ vào. Đang học dở lớp 10 thì xung phong đi bộ đội vào tháng 2.1975 và bắt đầu trải qua cuộc đời quân ngũ với nhiều thăng trầm cùng vấn đề không dễ gì nói ra: vì thành phần lý lịch gia đình bị cho là “có vấn đề” nên Khoa không thể vào đại học. Thời gian đầu Khoa là lính bộ binh ở Quân khu 3, rồi sang Campuchia, vào Phnom Penh, từng 3 lần sa ổ phục kích của địch mà may mắn sống sót. Sau đó, Khoa chuyển sang quân chủng hải quân, đi công tác ở Trường Sa, và chùm thơ viết trên đảo Sinh Tồn đã đoạt giải nhất cuộc thi thơ Báo Văn Nghệ năm 1982. Thời gian sau, Khoa được cử đi học ở Trường Viết văn Nguyễn Du rồi theo học Trường Sĩ quan lục quân với quân hàm chuẩn úy. Khoa học rất giỏi và còn viết kịch để đơn vị diễn. Chủ nhật, mọi người trong đơn vị phải lên rừng kiếm củi và nhặt phân bò, Khoa được nghỉ nửa ngày để viết kịch và vở kịch đó được tặng huy chương vàng trong hội diễn.

Trần Đăng Khoa với 'tiếng lòng không dễ nói ra' - Ảnh 5.

Tập thơ Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa

Nhớ về những năm tháng đó, Khoa chia sẻ: “Vì thành phần lý lịch gia đình có vấn đề nên những năm tháng quân ngũ rất thăng trầm. Hồi đó, với lời giới thiệu rất trân trọng của nhà thơ Hữu Thỉnh đề nghị kết nạp tôi vào Đảng, chính trị viên của trường sĩ quan sau khi về địa phương xác minh lý lịch gia đình đã kết luận “không thể kết nạp”. Ngày tốt nghiệp Trường Sĩ quan lục quân, mọi người đều được phong hàm trung úy, riêng tôi vẫn chỉ là chuẩn úy như ngày mới vào trường. Chính trị viên đơn vị bảo: “Đồng chí không phải là người chúng tôi đi tuyển vào trường mà do Tổng cục Chính trị gửi đi học thì bên ấy phong hàm chứ chúng tôi không phong”. Tôi nói thật với bác, đêm ấy khóc. Phấn đấu suốt bao năm chẳng được gì, tôi lại ôm hàm chuẩn úy trở về với Hải quân, lại tiếp tục đi Trường Sa.

Tôi ra cùng lính hải quân giữ đảo Thuyền Chài giữa đại dương mênh mông bão gió, trú dưới mái lều bạt phong phanh, làm gì được như bây giờ. Rất may, 3 năm tôi ở Trường Sa không có bão lớn chỉ có áp thấp nhiệt đới, biển chỉ dựng sóng lên sôi sùng sục chứ không phải bão tố nên tôi vẫn tồn tại, viết được khá nhiều, trong đó có cuốn Đảo chìm khá nổi tiếng, rồi Hải quân phong hàm thiếu úy, 6 tháng sau phong trung úy, rồi một năm rưỡi sau phong thượng úy nhưng vẫn không được vào Đảng. Hồi đó, tôi đi nói chuyện, đi đọc thơ ở nhiều nơi và các đơn vị, lính tráng mê lắm, họ dự định đưa tôi vào Ban chấp hành T.Ư Đoàn vì tôi rất giỏi ở khoản tuyên truyền nhưng cũng không xong vì tôi chưa phải đảng viên.

Quân chủng Hải quân đã 9 lần cử cán bộ về thuyết phục địa phương, nhưng cũng không được, lần cuối cùng phải làm việc với Tỉnh ủy Hải Dương, họ đồng ý cho kết nạp tôi vào Đảng với kết luận: “Lý lịch rõ ràng, nếu phấn đấu tốt thì có thể kết nạp ở dạng đặc biệt nhưng không giao bất cứ nhiệm vụ gì từ phó bí thư chi bộ phụ trách tổ chức trở lên”. Sau khi kết nạp Đảng, tôi được ra quân, trở về thi vào Trường Viết văn Nguyễn Du với 30 điểm thủ khoa, rồi được cử đi học Trường viết văn M.Gorki ở Liên Xô (cũ). Sau 6 năm, tốt nghiệp, tôi đạt bằng giỏi, về công tác ở Tổng cục Chính trị, 10 năm làm phóng viên ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội nhưng không được làm biên tập và được đề nghị phong hàm thượng tá lúc ra quân, chuyển về công tác ở Đài tiếng nói Việt Nam”.

Trần Đăng Khoa cho biết thêm mình thật sự đã được đổi đời khi về Đài tiếng nói Việt Nam nhờ ông Vũ Hiền, Tổng giám đốc đài. Lúc đó, đài đang khuyết chức Trưởng ban Văn nghệ, ông Vũ Hiền quyết định đưa Khoa lên phụ trách ban. Khi một cán bộ chức năng nhắc: “Khoa về đây chỉ làm nhân viên thôi, không thể đưa lên trưởng ban được”, ông Hiền bảo: “Tôi cần cán bộ làm Trưởng ban Văn nghệ chứ không cần nhân viên, tôi hiểu chú ấy chứ, một bài thơ của chú ấy thời chiến tranh bằng sức mạnh của cả một đạo quân, tôi cứ dùng, nếu nói chú ấy “đen” thì tôi nhuộm thành “đỏ”. Sau đó, đài nhận một công văn của cơ quan chức năng với ý kiến: “Không nên dùng Trần Đăng Khoa”, nhưng Tổng giám đốc Vũ Hiền vẫn kiên quyết đưa Khoa lên làm trưởng ban, rồi sau đó làm Bí thư Đảng bộ Đài với 5.000 đảng viên. Sau này, Khoa được nhà thơ Hữu Thỉnh đưa sang Hội nhà văn Việt Nam và làm Phó chủ tịch Hội đến hôm nay.

Năm 2025, Trần Đăng Khoa đến tuổi về hưu, nhà thơ xin phép Hội nhà văn Việt Nam cho thôi tất cả các chức vụ trong Ban chấp hành và xin thôi cả chức Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội. Khoa tâm sự với tôi: “Thật ra, tôi làm thơ trẻ con thời chống Mỹ cũng chính là làm chính trị từ bé đấy chứ. Giờ thì tôi chỉ muốn về nghỉ thôi ông ạ. Tôi cũng đang nhiều bệnh nên dành chút thời gian còn lại viết được gì thì viết, nhiều nơi họ yêu quý mời tôi đi nói chuyện, tôi cũng không đi hết được, phải nghỉ thôi”. Tôi cũng đồng ý với Trần Đăng Khoa, vì cứ phải vác mãi “Cây thánh giá của cái tuổi trẻ con là thần đồng thơ” thì nhiều lúc cũng thấy nặng vai, nặng tâm lắm chứ. Tôi chúc Khoa sau khi về hưu luôn vui khỏe cùng vợ con, bạn bè văn chương nhưng không được bỏ thơ, bỏ viết vì chưa đến tuổi phải từ bỏ tất cả, Khoa nhỉ…!

Nguồn: https://thanhnien.vn/tran-dang-khoa-voi-tieng-long-khong-de-noi-ra-185260131225237326.htm

ThanhNien Logo

Hello Mình là Cải

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Mới nhất
Cũ nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Tin Nóng Hôm Nay