1. Xây nhà thật khó, nhưng đập đi thì thật nhanh.
Mới tuần trước, người ta đưa tới nhà ông bà Năm một nhóm bốn, năm người. Họ tháo cửa gỗ, tháo cửa sắt. Cái nào tháo ra mà liệu còn nguyên vẹn thì họ làm thận trọng hơn. Tôi nghĩ là họ sẽ mang đi bán, sẽ còn một đời sống thứ hai cho những khung cửa ấy. Đồ cũ mà, chắc cũng rẻ thôi. Lòng tôi bâng quơ ước mình có một cái nhà đủ rộng, để mua lại khung cửa sổ màu xanh cũ kỹ ấy. Như là để cất giữ một mùi hương, cất lại những tiếng nói trầm đục lẫn tiếng cười trong trẻo. Khung cửa đã thu lại hết tiếng những đứa bé bập bẹ gọi bà Năm ơi, cho con bịch yaourt, tiếng con Thy ghé mua bịch bột giặt than chồng nó dạo này tăng ca nhiều đến rạc người, tiếng ông Năm hay có câu cửa miệng bà để chút nữa tôi làm cho…

Minh họa: Văn Nguyễn
Rồi xe ủi, máy móc tới, ầm đùng mấy bữa, khói bụi mấy bữa. Xe tải hốt hết xà bần bê tông chở đi. Không còn dấu vết nào trên khu đất hình chữ nhật. Mưa giữa mùa dội xuống, như hỏi thăm đất có muốn nảy lên hạt mầm nào không. Tôi nhớ hồi đó, ông Năm cứ thích gieo hạt bắp vào chậu, những hạt bắp ông xin từ tiệm thức ăn chim gà. Chúng có nảy mầm, nhưng bà Năm chưa từng có một mùa xuân nào “chắc như bắp”, như lời ông Năm nói lúc mang hạt đi gieo. Những cây bắp của ông thiếu nắng, thiếu mưa, thiếu gió nép mình bên kệ gỗ đầy hàng nên cao lớn một thời gian rồi lụi tàn. Không trổ hoa, không kết trái. Trồng bắp, với ông Năm như là một công án thiền…
Ông bà Năm đã gắn với khu phố, với chung cư chúng tôi như một người thân, một nỗi nhớ không tên khi ai đó rời đi hẳn. Hơn hai mươi năm từ khi tôi dọn về căn hộ tầng ba, buổi sáng tiếng cửa sắt khua nhẹ, tiếng chổi tre loẹt quẹt đánh thức tôi dậy. Rồi tôi nghe ông Năm dọn hai cái bàn, bốn năm cái ghế gỗ ra sân. Bà Năm nấu nước pha trà, pha hai tách cà phê đầu ngày, một cho ông Năm và một cho ông Địa. Đó cũng là ly cà phê của bà sau khi ông Địa “uống xong”.
Những buổi sáng xa xưa, luôn có vài chú lớn tuổi tới, kéo ghế gọi ly cà phê để bắt đầu câu chuyện bầu tổng thống bên Mỹ, chuyện bão lũ miền Bắc, chuyện vũ trụ lủng mấy lỗ đen thui. Thỉnh thoảng họ hạ giọng, chuyện thằng X, con Yến trên lầu 4 hồi tối chắc là đánh nhau. Vừa nói xong, con Yến ào tới: “Bà Năm ơi, nhìn giùm con chiếc xe, con chạy lên lầu lấy cái ba lô cho thằng nhỏ!”. Nó vừa nói vừa chạy, vừa chửi thằng chồng có nhiêu đó cũng quên…
Ông bà Năm bán tạp hóa mới là nghề chính, còn cà phê buổi sáng thì bán cho vui, vì dẫu sao bà cũng phải pha cho ông Năm và ông Địa. Nhưng dù nói vậy, mùi thơm cà phê của bà lại khiến bao người bên chung cư phát ghiền. Tôi ở trên lầu cao, tiếng nói ồm ồm đặc biệt của ông Năm trong những câu chuyện sáng là thanh âm của một ngày bình yên. Tiệm tạp hóa của họ hình như không thiếu thứ gì, kể cả mấy cái cuốn lô trên đầu bà Năm cũng có bán. Mì gói, đường, sữa, yaourt, snack, kẹo cao su, bao cao su, dầu gội, sữa tắm… Đó chính xác là một thế giới diệu kỳ, là thiên đường của con nít lẫn ba nó, vì bà Năm có bán cả bia và thuốc lá.
Nhưng chưa hết, bà Năm còn dư thừa cả sự sẻ chia. Bà luôn có những lời khuyên ấm áp, những im lặng lắng nghe khi bất cứ ai ghé mua đồ mà cần giãi bày. Rồi bà Năm cho nợ, bà Năm cho mượn tiền. Hồi dịch Covid-19, tiệm tạp hóa của bà đã cứu đói cho rất nhiều người khi chung cư bị giãn cách. Cứ như thế, ông bà Năm nơi góc phố tôi ở đã trở thành một biểu tượng của nghĩa tình đô thị, lặng lẽ ở cạnh ta, không ồn ào, không hào nhoáng. Nhưng nếu họ đi, khoảng trống để lại thật lớn.
2. Vì đời thường có những biến động chậm mà chắc.
Bảy năm trước, ông Năm được chẩn đoán suy thận mãn. Vậy là bảy năm bước vào trận chiến chạy thận, thời gian như bị rút mỏng. Những chiều nắng tắt, bà con hay gặp ông đi bộ thể dục, một bên tay dán miếng băng cá nhân. Hẳn ông vừa chạy thận về. Ông đi, hai tay cố tình vẩy mạnh cho máu huyết lưu thông. Cái vẩy tay tưởng là sẽ giúp ông trông mạnh mẽ hơn nhưng lại làm dáng đi thêm phần loạng choạng.
Từ sau đại dịch, bà Năm cũng không còn bán cà phê sáng nữa. Bà phải cùng ông luân phiên đi bệnh viện, cõng theo tình yêu và trách nhiệm của một đời chung thủy. Ban đầu, lịch chạy thận còn thưa, khách vẫn ghé tiệm, vẫn có tiếng cười; rồi dày hơn, rồi đều hơn. Tiệm tạp hóa thường xuyên đóng cửa, gió thổi đám lá khô tới trước sân bà Năm cũng không buồn quét. Tiếng ồm ồm mỗi sáng của ông Năm cũng thưa ra, đứt quãng. Thứ âm thanh quen thuộc ấy cứ nhỏ dần rồi tắt hẳn. Ai cũng biết ông rồi sẽ đi. Một ngày, khi tiếng kèn tây rộ lên vào sáng sớm, mọi người bên chung cư chạy xuống tiễn ông Năm một đoạn trong niềm ái ngại khi nghĩ về bà Năm. Họ đã sống một đời hòa hợp, nên khi ông đau, bà như cũng nghiêng vẹo theo, trong nhiều năm sau này.
Ông Năm bệnh, hẳn là tốn tiền, nhưng tiệm tạp hóa thì mỗi ngày một vắng. Câu chuyện của ông bà Năm không chỉ là chuyện ốm đau già cỗi của một gia đình, chuyện kinh doanh ế ẩm khi đã hết duyên mua bán. Mà, nó nằm trong một bối cảnh lớn hơn: sự dịch chuyển của thói quen mua sắm, khi thương mại điện tử như một con sóng ập vào từng ngóc ngách của đời sống đô thị.
Những năm gần đây, không chỉ TP.HCM mà cả đất nước này, hàng hóa từ các nền tảng thương mại điện tử bùng nổ. Thị trường bán lẻ trực tuyến của Việt Nam đã vượt mốc 25 tỉ USD vào năm 2024, tăng mạnh so với những năm trước. Những nền tảng như Shopee, Lazada, TikTok Shop… đâu chỉ bán hàng. Họ bán sự tiện lợi, bán khát khao được thỏa mãn, bán tốc độ giao nhận tận nơi. Ở một đất nước mà điện thoại thông minh và mạng 4G/5G đã phủ khắp, thì việc mua một gói snack, một hộp sữa, hay đặt giao cả tạ gạo chỉ còn là vài cú chạm tay.
Khi chuyện mua hàng trở nên giản đơn, thì thói quen ghé tiệm tạp hóa quen thuộc dần bị xói mòn. Ông bà Năm dừng bán cà phê buổi sáng, vai trò “trái tim thông tin” của khu phố cũng bị thay thế. Bà Năm không còn theo kịp cô tổ trưởng khu phố trong việc tuyên truyền chính sách, vì cư dân đã có group Zalo chung từ thời dịch. Những cảnh báo lừa đảo, thông tin sinh hoạt… đều được nhắc nhau qua điện thoại.
Tôi biết bà Năm đã sống trọn tình với mọi người, nhất là với bà con bên chung cư. Có lần, tôi thấy chị Chiêu ngồi khóc, bà Năm lặng lẽ kéo ghế lại, vừa may đường chỉ sút của chiếc rèm che nắng, chốc chốc vỗ vỗ đôi vai đang run lên của chị. Tôi thấy bà đẹp như bất cứ người phụ nữ thôn quê hồn hậu nào, nhưng lại đậm đặc tình tương thân tương ái kiểu Sài Gòn. Bà Năm nhắc tôi hiểu ra ở đâu cũng có những người phụ nữ biết thương nhau.
Số liệu khác cũng cho thấy xu hướng này: khoảng 70% giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam năm 2024 diễn ra qua điện thoại di động – nghĩa là hầu hết các giao dịch mua sắm đã rời xa khung cửa gỗ màu xanh của bà Năm, nơi treo cơ man nào là quà bánh, và một chiếc chuông đồng nhỏ để rung lên khi chủ tiệm đang lúi húi phía trong.
Ông bà Năm lùi lại một quãng, rồi hai, rồi ba… Dù muốn hay không, tiệm tạp hóa ấy đã hoàng hôn theo hoàng hôn chính đời người của họ. Rõ ràng, có một cơn gió đã thổi qua, lay chuyển những điều tưởng chừng bất di bất dịch.
3. Cuối cùng, họ lùi hẳn, mất dấu. Sau đám tang ông Năm, bà bán nhà, theo con cái đi nơi khác.
Rất nhanh, người trong chung cư chỉ tay về khu đất trống, nghe đâu chủ mới sẽ cất lên một tiệm trà chữa lành.
Tiệm trà chữa lành, thật thời thượng, thật thanh tao. Nơi người ta đến để sống chậm, uống trà, chụp vài tấm ảnh aesthetic. Ý tưởng ấy đẹp, và tôi mừng cho không khí mới, cho những ý định giữ lại chút êm dịu giữa đô thị ồn ã. Tôi chỉ băn khoăn, tiệm trà có thể chữa lành đôi mắt, nhưng có làm bờ vai cho ai được không? Tôi từng ghé vài quán kiểu ấy: người trẻ đến, im lặng mở laptop hoặc điện thoại, nhạc thật thiền, nhưng họ chìm trong sự cô đơn dù đang đi với bạn.
Khi tiện nghi làm mòn những tiếp xúc trực tiếp, một số giá trị vô hình rơi ra ngoài lằn ranh đo đếm: niềm tin, sự quen thuộc, tiếng gọi thân mật. Ở nhiều khu phố nhỏ, tiệm tạp hóa đâu chỉ là nơi đổi trao hàng hóa. Ở đó không có hóa đơn, chỉ có sổ nợ viết vội bằng bút bi. Ở đó, họ sống nhờ một hệ thống tín nghĩa mà không một ứng dụng nào có thể lập trình đầy đủ.
Tôi không có ý kết án sự phát triển, chỉ muốn ghi nhớ về ông bà Năm: nhớ hương cà phê, nhớ tiếng chổi tre, nhớ những lần bà gọi tên từng đứa trẻ bằng biệt danh trìu mến. Ghi nhớ cách một đời người có thể làm cho góc phố ấm áp hơn…
Mong một ngày tiệm trà thành hình, tôi sẽ bước vào ngồi ở góc bàn, gọi một ly trà, rồi kể cho ai đó nghe về ông bà Năm, về cuốn sổ nợ cũ đã vàng, về tiếng chuông trên khung cửa sổ màu xanh, về những gói mì trong mùa dịch, về những lần bà giấu quà cho lũ trẻ…
Ông bà Năm không còn ở đây, họ dường như đã mang theo một phần hồn của phố. Nhưng trong hơi ấm của mùa xuân, trong thời gian chờ đợi người ta mở một tiệm trà như lời đồn, tôi đã thấy có vài cây bắp mọc lên trên vuông đất hình chữ nhật…
Nguồn: https://thanhnien.vn/da-moc-len-mot-tiem-tra-chua-lanh-185260130194400503.htm

