Ở Indonesia, Koroway là bộ tộc được phát hiện từ những năm 1970, đến nay, vẫn chưa thể thống kê đầy đủ dân số bởi họ có tập tính sống du cư, lại ẩn trú trong vùng đầm lầy nên không dễ tiếp cận.
Để đến được thế giới của người Koroway, tôi phải qua gần 2 ngày đường, 5 lần nối chuyến mới hạ cánh xuống địa danh Yahukimo – cửa ngõ vào đầm lầy Irian Jaya cùng những huyền bí và xa lạ với thế giới lữ hành. Lại thêm 10 giờ đi thuyền độc mộc, xuôi dòng Brazar từ bến thuyền Lokbon ở Yahukimo, rẽ tiếp qua dòng Sirez, cuối cùng cũng đến được vạt rừng Mabul, nơi cư trú của người Koroway tiền sử.

Chiếc cầu thang mong manh là vật nối nhịp sống của người Koroway với rừng già
Hành trình ấy tiêu tốn 120 lít xăng, chưa kể những lần thót tim khi qua luồng lạch cạn, cùng cảm giác chơi vơi, nhỏ bé giữa dòng Sirez cuộn đục màu phù sa trong cái vắng lặng đến gai người.
Nỗi sợ đầm lầy
Đặt chân lên đất Mabul khi trời sụp tối, đây cũng là lãnh thổ của người Citak Mitak – bộ lạc mới tiếp cận văn minh con người, biết mặc quần áo từ thập niên 1980. Người Citak Mitak dựng nhà sàn, lợp lá cọ, sống dọc triền sông Sirez.

Người Koroway sống với rừng chỉ bằng các công cụ và vật dụng thô sơ
Hôm tôi đến nơi, cả làng xôn xao bởi khách lạ, ngoài trời lún phún mưa, không khí ẩm ướt, nhớp nháp, ánh đèn dầu khi tỏ khi mờ, bóng đêm chụp xuống nhưng không vì thế làm nhụt chí tò mò của người làng. Mọi người lục tục kéo về ngôi nhà nơi tôi tá túc, ngồi kín xung quanh, cười mỉm thân thiện, kèm chút rụt rè, e ngại.
Dưới ánh đèn dầu tù mù, tôi cùng những người dẫn đường sắp xếp lại hành lý chuẩn bị cho hành trình hôm sau. Từng vật dụng mở ra, lại là những tiếng ồ, à, cùng ánh mắt ngạc nhiên, bởi nói như người dẫn đường Rufus: “Nhiều người trong họ chưa bao giờ gặp người lạ từ ngoài vào”. Kiểm tra chiếc đèn pin, ánh sáng vừa lóe lên, người ngồi quanh rú lên hốt hoảng, kéo theo là tiếng bàn tán sôi động như vỡ chợ bởi lần đầu nhìn thấy thứ ánh sáng không đến từ mặt trời và ngọn lửa.

Những đứa trẻ Koroway sinh – diệt đầy bản năng, tồn tại nơi tận cùng thế giới
Mờ sáng hôm sau, hành trình vào đầm lầy tìm gặp người Koroway bắt đầu. Chỉ vài bước chân khỏi làng Mabul, vùng đầm lầy dưới chân và cánh rừng già trước mặt mở toang.
Dù đã chuẩn bị kỹ tâm lý và thiết bị đi rừng, giày ủng chống nước, nhưng có thực tế mới cảm rõ độ “tra tấn” tinh thần khi đi trong đầm lầy. Từng bước chân lên mặt đất xâm xấp nước, phủ đầy lá mục, không chỉ là nặng nhọc, mà độ hụt lún gây ức chế cực độ bởi không thể hình dung mỗi lần đặt chân, sẽ hụt sâu đến cỡ nào.
Nỗi căng thẳng ấy lại chồng đè thêm 2 “đặc sản” là muỗi và vắt.

Bộ sưu tập đầu lợn rừng qua những chuyến săn bắt của Marcus
Chỉ một nhịp chậm nghỉ, muỗi tụ về cả đàn vo ve trên đầu, tán lá rung rinh với những con vắt tìm mồi hút máu. Trong nỗi căng thẳng ấy, Mir – người thổ dân dẫn đường, lại mừng ra mặt, anh hí hửng bắt vắt bỏ vào cái ống con con bên mình rồi bảo: “Cho vắt quấn nhau sẽ tiết ra dịch, bôi vào cậu nhỏ, vừa trơn và làm tê nhẹ, giúp đàn ông mạnh hơn khi ái ân”.
Những câu chuyện về bản năng sinh tồn và cách thích ứng với rừng của người bản địa, giúp hành trình luồn rừng của ngày hôm ấy vui nhộn hơn và đường xa như ngắn lại.
Kho báu trên mái nhà
Sau 8 giờ di chuyển từ Mabul qua bao đoạn suối nông sâu, khi lội dòng, khi phải ngả cây làm cầu tạm, ngôi nhà trên cây của người Koroway đầu tiên cũng thấp thoáng nơi cuối rừng, trước khi ánh dương tàn ụp xuống. Địa danh ấy được gọi là Eroway Wari.

Ngôi nhà trên cây của vợ chồng Amir
Sống nơi đầm lầy, người Koroway dựng nhà trên ngọn cây, gần con suối. Khi dựng nhà, chủ nhân chọn cây to hơn người ôm làm cột nhà chính, đốn ngang cách mặt đất tầm 15 m, sau đó phát hết cây rừng xung quanh để dễ quan sát và phòng vệ.
Người Koroway ở ngôi nhà trên cây cho đến khi gặp kiến bò đến làm tổ (nghĩa là sắp mục) hoặc nguồn thức ăn của vùng rừng quanh ngôi nhà cạn kiệt, họ rời nhà tìm nơi cư trú mới. Đó cũng là lý do đến nay không thể thống kê được số dân chính xác của tộc người Koroway, mà chỉ áng chừng khoảng hơn 3.000 người.

Vợ chồng Lion và hai con nhỏ
Vượt qua dòng suối nhỏ, tôi bước vào khu vực cây cối bị đốn hạ quanh ngôi nhà trên cây. Chưa kịp dừng nghỉ, một bóng người lù lù xuất hiện, không có gì che thân, vai vác bó củi to, giữ khoảng cách với ánh nhìn dò xét. Nhóm người dẫn đường lập tức bắt chuyện, giới thiệu về chuyện viếng thăm, gương mặt người đàn ông giãn ra, hỏi biết tên anh là Marcus – chủ nhân ngôi nhà.
Theo lời mời của Marcus, tôi theo anh bám lấy chiếc cầu thang leo lên ngôi nhà, lớp mái giắt đầy xương trắng làm tôi giựt mình. Marcus giải thích: “Chúng tôi đi rừng, bắt được con gì, ăn thịt xong sẽ giắt xương lên đó”.

Sống tách biệt, không làng xóm, vợ chồng Koroway nương tựa vào nhau và rất chung thuỷ
Người dẫn đường Rufus giải thích thêm: “Đấy là cách người Koroway thể hiện sự giàu có, sung túc, và sức mạnh của chủ nhân ngôi nhà. Xương thú càng nhiều, càng chứng tỏ người đàn ông của gia đình đấy giỏi giang, mạnh khỏe.
Đó cũng là chi tiết để người phụ nữ Koroway tự hào về chồng mình, bởi không lo bị đói”. Nhìn vào góc khác của ngôi nhà Marcus, có hơn chục đầu lợn rừng, chó rừng chỉ còn lại xương và răng, đủ biết Marcus là thợ săn thiện chiến. Bởi với phương tiện săn bắn thô sơ là cung tên, việc hạ được những con thú rừng nhanh lẹ không hề đơn giản.
Tổ ấm giữa rừng xanh
Người Koroway sống tách biệt theo từng gia đình, từ nhà này đến nhà kia thường mất một ngày đường. Từ nhà Marcus ở Eroway Wari, mất khoảng 8 tiếng đường rừng nữa mới đến được nhà của Lion bên dòng sông Abi, nơi anh đang sống cùng vợ và hai con nhỏ.
Leo qua cây cầu thang thẳng đứng, tôi vào tổ ấm của Lion là ngôi nhà trên cây cao khoảng 20 m, phần sàn nhà lủng lỗ chỗ, rung chao theo từng bước đi. Đứa bé thứ hai nhà Lion, áng chừng 2 tuổi, lần đầu thấy người “dị hợm” đến từ thế giới khác, mặc đủ thứ trên người, tay lại có máy ảnh, máy quay trông đến khiếp, nên cậu bé khóc mãi không cách gì nín lại.
Ở thế giới của người Koroway, đàn ông trần trụi, cổ đeo nanh chó, phụ nữ che thân dưới bằng váy cỏ, cổ đeo vòng ốc hóa thạch.

Dùng thân cây đổ bắc cầu băng dòng sông Avium đi tìm người Koroway
Lion cho biết tổ ấm của anh được dựng lên khi anh lập gia đình. Hỏi về thời gian dựng nhà? Anh chẳng hiểu thời gian là gì. Rufus cho thêm thông tin: “Gặp người Koroway, đừng hỏi họ thời gian, tuổi tác, vì họ không hiểu những khái niệm đấy. Họ cũng không có câu hỏi vì sao trong đầu, mọi sự vật hiện tượng qua mắt họ, thế nào là thế ấy”.
Rufus cho biết thêm tộc người Koroway sống rất chung thủy, mỗi ngôi nhà trên cây là một cặp vợ chồng, nương tựa nhau cùng tồn tại nơi rừng thiêng nước độc.

Người Koroway sống với rừng chỉ bằng các công cụ và vật dụng thô sơ
Qua từng ngôi nhà trên cây, gặp gỡ từng chủ nhân như Marcus, Lion, rồi đến Amir, Kepala… đều thấy đời sống gia đình của họ “không” đủ thứ, nhưng “có” cái rõ nét, đó là tình yêu.
Nếu người đàn ông khỏe như những chiến binh, săn tìm muông thú làm của ăn cho gia đình, thì phụ nữ Koroway là những người can đảm bậc nhất chốn rừng xanh, họ thụ thai, sinh con theo tự nhiên, không dự báo, định hướng.
Vợ Lion kể về chuyện sanh nở: “Đứa đầu sinh ra khi đang đi rừng, phải dùng đá cắt dây rốn rồi ôm về nhà. Đứa thứ hai tự sinh ở nhà”. Giữa vùng đầm lầy thiếu thốn và hoang sơ ấy, để tồn tại đã là kỳ tích, lại còn duy trì nòi giống, sống hạnh phúc, gắn kết bên nhau như cách của người Koroway thể hiện, thực là điều phi thường.

Đàn ông Koroway khi rời nhà, vật bất ly thân là bộ cung tên
Gặp gỡ người Koroway hôm nay, đều thấy ở họ sự thân thiện, gần gũi, không còn mối nguy hiểm về chuyện hạ sát người lạ khi lạc vào lãnh thổ của họ để ăn thịt như ngày xưa.
Mỗi khi chia tay, người Koroway luôn xuống khỏi ngôi nhà trên cây, ra tận mép rừng chào từ biệt.
Tôi về lại thế giới của văn minh, của tấp nập đời thường, người Koroway lặng lẽ quay về thế giới hoang sơ của họ, nơi đầm lầy, rừng xanh, muông thú, hòa cùng bản năng sinh tồn dưới sự che chở của mẹ thiên nhiên.
Nguồn: https://thanhnien.vn/trong-coi-khong-o-noi-tan-cung-the-gioi-185260131151744278.htm

