
Một ngày giữa tháng 8/2024, trong phòng sơ sinh, BSCKII Vũ Thị Thu Nga, Trưởng khoa Sơ sinh, Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, cúi sát lồng ấp, đặt tay lên tấm kính trong.
Bên trong, bé gái sinh non chỉ nặng 1,2kg nằm lọt thỏm giữa dây truyền và tiếng bíp đều đều. Bé bắt đầu có phản xạ mút, một dấu hiệu nhỏ nhưng đủ để kíp trực giữ lại hy vọng. Chỉ có điều, người mẹ ruột của bé đã rời viện từ ngày thứ ba.
Nhìn cuộc gọi được thực hiện đến lần thứ 5 nhưng phía đầu dây bên kia vẫn không bắt máy, nữ bác sĩ lòng nặng trĩu.
Hơn 20 năm công tác tại khoa Sơ sinh, chị hiểu từ khoảnh khắc ấy, ca bệnh không chỉ còn là một trường hợp sinh non, mà bắt đầu trở thành câu chuyện của những đứa trẻ bị bỏ rơi ngay từ những ngày đầu đời.
Với trẻ sinh non, mọi thứ đều có thể trở thành nguy cơ. Não chưa trưởng thành có thể khiến trẻ ngừng thở. Thân nhiệt tụt nhanh chỉ vì thiếu tiếp xúc da kề da. Dinh dưỡng không đủ có thể kéo cơ thể non nớt vào suy kiệt.
Bé gái ấy được nuôi trong lồng ấp, thở máy, dùng kháng sinh, nuôi dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn. Có thời điểm, các bác sĩ phải cho bé nhịn ăn để điều trị viêm ruột hoại tử, một biến chứng nặng ở trẻ sinh non.

Bé được chiếu đèn điều trị vàng da. Và mỗi ngày, kíp trực lại “đọc” từng thay đổi rất nhỏ của con, từ màu da, nhịp thở, phản xạ mút, đến những con số trên monitor, như đọc một bản tin sinh tử.
BS Nga nhắc đến một chi tiết mà người ngoài dễ bỏ qua nhưng người trong nghề thì hiểu: với trẻ sinh non, được ôm ấp trên lồng ngực người mẹ không chỉ là tình cảm, mà còn là một can thiệp sinh học.
Hơi ấm và nhịp thở của người lớn có thể kích thích nhịp thở của trẻ. Thiếu điều đó, các bác sĩ vẫn có thể can thiệp, nhưng vẫn luôn biết có một khoảng trống mà máy móc, thuốc men khó lấp đầy.
Trong những ca như vậy, thứ ám ảnh không chỉ là bệnh án. Đó là câu hỏi đầy trăn trở: một đứa trẻ bắt đầu bằng sự bỏ rơi sẽ đi về đâu, sau khi qua được cửa tử đầu đời.
Và câu hỏi ấy, suốt hơn một thập kỷ, đã kéo BS Nga cùng các đồng nghiệp khoa Sơ sinh đi xa hơn nhiệm vụ của một khoa điều trị. Họ không chỉ cứu sống mà còn tìm đường cho những sinh linh được lớn lên trong một gia đình hạnh phúc.

Trong phòng hồi sức sơ sinh, có những chiếc lồng ấp, giường sưởi treo bảng tên do chính các nhân viên trong khoa tự đặt.
Đó là những em bé bị bỏ rơi.
Theo BSCKII Vũ Thị Thu Nga, tại khoa Sơ sinh, Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, gần như năm nào cũng có những trường hợp như vậy. Có bé là con của các bà mẹ rất trẻ, có bé sinh ra trong hoàn cảnh kinh tế quá khó khăn, cũng có trường hợp người mẹ đơn thân không thể nuôi con.
Nhưng dù lý do là gì, những đứa trẻ ấy đều bắt đầu cuộc đời theo cùng một cách: nằm trong lồng ấp hay giường sưởi, không có người thân bên cạnh.
“Có em bị bỏ lại ngoài bụi rậm, da đầy vết côn trùng đốt. Có em sinh non chỉ hơn 1kg, phải nuôi hàng tháng trời trong lồng ấp. Có bé bệnh nặng, điều trị kéo dài. Với các con, bác sĩ và điều dưỡng chính là người thân duy nhất trong thời gian nằm viện”, BS Nga nói.

Không có mẹ, mọi việc từ nhỏ nhất đều do nhân viên y tế đảm nhiệm. Từ thay tã, cho ăn, theo dõi từng nhịp thở, đến những lúc bé quấy khóc giữa đêm.
Trong khoa, từ bác sĩ đến điều dưỡng đều xưng mẹ, gọi con với những em bé bị bỏ rơi. Có những em được đặt tên thân mật, được bế đi giao ban, được bồng bế như con của cả khoa.
Có ca trực, điều dưỡng vừa xong việc chuyên môn lại tranh thủ bế một bé sinh non đang khóc. Đôi khi chỉ là vài phút ôm ấp, vỗ về. Nhưng với những đứa trẻ không có ai bên cạnh, đó là sự chăm sóc duy nhất chúng có được.
Có những bé phải nằm viện hàng tháng. Từ lúc chỉ nặng hơn 1kg, phải thở máy, truyền dịch, chống nhiễm khuẩn, đến khi tự thở, biết mút, tăng cân dần.
Mỗi cột mốc nhỏ của bé đều trở thành niềm vui của cả khoa.
“Có bé lúc mới vào tiên lượng rất nặng. Nhưng qua từng giai đoạn, bé ổn dần, tăng cân từng chút. Đến khi đủ điều kiện ra viện, ai cũng thấy mừng”, BS Nga kể.

Các trường hợp trẻ bị bỏ rơi bắt đầu xuất hiện ở khoa từ năm 2014. Khi đó, khoa vừa thành lập chính thức. Chưa có quy trình rõ ràng, các y bác sĩ nhận trẻ, chăm sóc rồi chuyển sang trung tâm bảo trợ xã hội khi sức khỏe ổn định.
Nhưng khoảng 7, 8 năm trở lại đây, BS Nga cùng các đồng nghiệp chọn một con đường khác.
Khoa cố gắng tìm cho các em một mái ấm thứ hai, thay vì đưa vào trung tâm.
“Khi đã chăm con từ lúc bé xíu, nhìn con lớn từng ngày, cảm giác như mình là mẹ. Mà đã là mẹ, thì ai cũng muốn biết con sẽ sống ở đâu, lớn lên thế nào”, BS Nga giải thích lý do.
Sau khi điều trị ổn định, khoa báo phường/xã nơi trẻ bị phát hiện để làm thủ tục theo quy định. Trong thời gian chờ hoàn tất hồ sơ, thông tin về em bé được đăng tải.
Cũng từ những bài đăng thông báo, các gia đình bắt đầu tìm đến.

BS Nga và các đồng nghiệp coi việc tìm gia đình cho trẻ bị bỏ rơi là một phần của việc làm mẹ. Nhiều khi cảm nhận tình yêu thương của gia đình mới với con chỉ qua những chi tiết rất nhỏ.
Có gia đình đến thăm một lần rồi thôi. Có người đến đều đặn, đứng ngoài cửa kính, nhìn con rất lâu. Có người gửi sữa, gửi đồ, hỏi điều dưỡng xem bé cần gì. Cũng có người mua quần áo, nhưng chất vải không phù hợp cho trẻ sơ sinh.
“Chỉ cần vài chi tiết nhỏ, mình cũng có thể cảm nhận được mức độ quan tâm của họ với con. Bởi nếu bé rời bệnh viện mà vẫn không có một gia đình thực sự, câu chuyện thiệt thòi có thể kéo dài suốt cả tuổi thơ”, BS Nga nói.

Khi phường/xã đã xác định gia đình phù hợp, các bác sĩ bắt đầu bước tiếp theo, cho họ làm quen với em bé. Khi hồ sơ gần hoàn tất, điều dưỡng hướng dẫn tập bế, tập cho bé bú bình.
Với những cặp vợ chồng chưa có con, mọi thứ đều phải chỉ lại từ đầu. Cách bế, thay tã, quấn khăn, cho bú… đều được hướng dẫn từng bước.
Niềm vui các con về nhà mới luôn đi kèm với một khoảng lặng.
Ngày trao bé, khoa thường làm một clip ngắn ghi lại quá trình điều trị, chăm sóc trẻ từ khi vào viện đến khi trẻ ổn định về với gia đình mới. Lần nào cũng vậy, clip vừa trình chiếu xong, cả phòng khóc vì xúc động. Cuối buổi, BS Nga đứng lên phát biểu. Lần nào chị cũng khóc.
“Chăm các con từ lúc đỏ hỏn, ngày nào cũng gặp. Đến khi bé chuyển đi, ai cũng thấy hụt hẫng”, nữ bác sĩ nói.
Có những em bé khoa chăm rất lâu. Hai trường hợp lâu nhất chị nhắc đến là một bé sinh non 1,3kg được các “mẹ” ở khoa đặt tên là Bình An. Sau 96 ngày chăm sóc, Bình An được trao về gia đình mới khi đã hơn 5kg.
Ca nhỏ nhất khoa điều trị được chào đời ở mốc 29 tuần, cân nặng 1.200g, cũng là một em bé bị bỏ rơi. Khoa chăm gần 3 tháng. Trong thời gian ấy, cộng đồng quan tâm, thăm hỏi, hỗ trợ. Khi trẻ ổn định, khoa tìm được cho em một gia đình, một mái ấm mới. Hiện em phát triển tốt.

Có những trường hợp, BS Nga và đồng nghiệp phải tìm cách nối lại sợi dây của tình mẫu tử.
Chị kể về một cô gái sinh năm 2006, quê Lào Cai. Đây là lần sinh thứ tư. Ba lần sinh trước, 2 cháu đầu mất lúc 3 tháng vì viêm phổi; cháu thứ ba thai chết lưu lúc 7 tháng, theo lời kể của bác sĩ.
Lần này, cô sinh tại nhà trọ lúc rạng sáng. Khi được chuyển tới bệnh viện, em bé đã tím tái và hạ thân nhiệt nặng, chỉ còn 31 độ. Khoa phải ủ ấm nhiều giờ kết hợp thở máy sau đó mới dám can thiệp các thủ thuật chuyên sâu khác.
Người mẹ ban đầu không muốn chăm con, xin trở về quê. Bệnh viện liên hệ địa phương để thuyết phục người mẹ. Sau một thời gian, cô đã đồng ý quay lại.
“Khoa nuôi cả mẹ lẫn con. Những suất cơm từ bệnh viện, những phần ăn gọi thêm, nguồn hỗ trợ từ thiện… trở thành chỗ dựa để người mẹ trẻ ở lại.
Ban ngày, cô được ôm con. Ban đêm, các bác sĩ lại đưa bé về khu theo dõi monitor để đảm bảo an toàn”, BS Nga chia sẻ.
BS Nga nói, điều chị mong nhất là những cô gái trẻ đừng bỏ con. Nếu đã nhỡ nhàng hãy tìm sự trợ giúp khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Mỗi đứa trẻ sinh ra đều xứng đáng được bảo vệ và yêu thương ngay từ những giây phút đầu đời.


Trên bức tường giữa hành lang khoa Sơ sinh có một bức tranh lớn, được BS Nga gọi là niềm tự hào của cả khoa. Bức tranh đó có ảnh những người con của khoa Sơ sinh.
“Các con đến với chúng tôi nhiều khi tím tái, bệnh nặng nhưng khi rời đi khỏe mạnh, hồng hào, bụ bẫm. Nhìn vào những tấm ảnh này chúng tôi thấy cả một quãng đường dài mình đã làm trọn trách nhiệm của người thầy thuốc”, BS Nga tâm niệm.
Trong hơn một thập kỷ, BS Nga ước tính hơn 10 đứa trẻ bị bỏ rơi đã được khoa đồng hành, chăm sóc và tìm mái ấm mới.

Nếu một ngày nào đó, các con đọc được câu chuyện của mình, chị chỉ mong các con hiểu một điều: Được ra đời đã là may mắn.
Các con từng có một người mẹ đầu tiên trong bệnh viện. Rồi các con lại may mắn có mái ấm thứ hai ngoài kia.
“Mong con lớn lên khỏe mạnh, trở thành người có ích cho xã hội”, nữ bác sĩ nói.
Nguồn: https://dantri.com.vn/suc-khoe/nu-bac-si-hon-10-nam-lam-me-tim-to-am-cho-nhung-em-be-bi-bo-roi-20260224175152202.htm

