Thứ năm, Tháng hai 26, 2026
HomeThời SựBà Tôn Nữ Thị Ninh kể lần nghe ông Kissinger nói đến...

Bà Tôn Nữ Thị Ninh kể lần nghe ông Kissinger nói đến “chí hướng người Việt”

Năm 2026 đánh dấu khởi đầu một giai đoạn phát triển mới của Việt Nam với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên. 

Báo Dân trí có cuộc phỏng vấn bà Tôn Nữ Thị Ninh – nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam bên cạnh Liên minh châu Âu và hiện là Chủ tịch Quỹ Hòa bình và Phát triển TPHCM – về chủ đề “Cần làm gì để Việt Nam cất cánh trong giai đoạn sắp tới?”.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh kể lần nghe ông Kissinger nói đến chí hướng người Việt - 1

Thưa bà, cuộc trò chuyện này diễn ra trong thời khắc rất đặc biệt – thời khắc vừa bước vào năm 2026, bước vào kỷ nguyên mới của đất nước. Xin bà chia sẻ những cảm xúc, suy nghĩ của mình lúc này? 

– Cảm xúc của tôi là vui mừng và mong đợi. Tôi nghĩ không chỉ riêng tôi mà rất nhiều người có chung cảm xúc như vậy. Nhớ lại hai dịp lễ kỷ niệm lớn trong năm qua là 50 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 80 năm Quốc khánh, tôi có chia sẻ với bạn bè, chỉ cần nhìn ngoài đường thôi cũng đủ thấy được sự ủng hộ của nhân dân đối với con đường đang đi của đất nước. Phải nói là quá sống động, quá tự nhiên!

Trong biển người trên phố, ngoài những cán bộ lão thành thì chủ yếu là người trẻ, họ cảm thấy hứng thú, mừng vui, háo hức. Những tình cảm đó không thể nào là giả tạo. Tại cuộc trò chuyện này tôi muốn nhắc lại điều đó để nói lên, đấy chính là câu trả lời thuyết phục nhất về sự đồng tâm, đồng lòng của nhân dân nói chung và của người trẻ nói riêng đối với con đường mà đất nước đang đi. 

Tất nhiên con đường còn khá dài và chông gai trước khi chúng ta thật sự có thể cất cánh. Đó là bài toán đặt ra cho giai đoạn sắp tới. 

Bà Tôn Nữ Thị Ninh kể lần nghe ông Kissinger nói đến chí hướng người Việt - 3

Khi tiếp xúc với các học giả, đối tác nước ngoài, bà cảm nhận họ đang quan tâm đến vấn đề gì của Việt Nam ở thời điểm hiện nay?

– Trước hết, họ đặc biệt quan tâm đến đường lối phát triển kinh tế gắn liền với hội nhập của Việt Nam trong giai đoạn mới.

Thực tế, hội nhập quốc tế đã được Việt Nam thúc đẩy từ thời kỳ Đổi mới. Nếu như ban đầu chúng ta còn “tập tễnh”, vừa làm vừa dò đường, thì đến nay, vị thế, năng lực và cách thức hội nhập của Việt Nam đã thay đổi căn bản.

Tuy nhiên, bài toán hội nhập vẫn đặt ra nhiều vấn đề. Những kết quả tích cực hiện nay không đồng nghĩa mọi việc đã được giải quyết. Trái lại, thách thức chỉ chuyển sang dạng khác, thậm chí phức tạp hơn trong một bối cảnh quốc tế biến động nhanh và khó lường.

Trước kia khó theo cách của trước kia, còn bây giờ là những khó khăn mới, đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục đổi mới tư duy và chiến lược hội nhập.

Đúng là mỗi giai đoạn có những thuận lợi và khó khăn riêng, đặc biệt hiện nay thế giới biến chuyển rất nhanh. Trong bối cảnh như vậy, theo bà những khó khăn, thuận lợi cụ thể đặt ra đối với Việt Nam nên được nhìn nhận như thế nào?

– Tôi nghĩ là chúng ta cần sự “tỉnh táo” và “hiểu biết”. Biến chuyển của bối cảnh toàn cầu trên tất cả lĩnh vực kinh tế, thương mại và an ninh, chính trị phải được theo dõi sát sao và có đánh giá trúng.

Thái độ không thể như một người đứng ngoài quan sát mà phải chủ động, tích cực tham gia vào quá trình định hình nên những biến chuyển đó, trên cơ sở lợi ích quốc gia, dân tộc. 

Bà Tôn Nữ Thị Ninh kể lần nghe ông Kissinger nói đến chí hướng người Việt - 5

Phải xác định được việc xây dựng “thế” và “lực” như thế nào để thế và lực hỗ trợ cho nhau trên con đường đi lên. Luôn có mối quan hệ qua lại, biện chứng giữa chính trị, ngoại giao, kinh tế và an ninh, quốc phòng. Tất cả chiều kích và nhân tố đó không thể xem xét riêng biệt mà phải là một bức tranh tổng thể, chuyển động liên tục. 

Bối cảnh toàn cầu và khu vực luôn biến động đòi hỏi sự xem xét, đánh giá tình hình cũng phải thường xuyên. Chuyển động của bên ngoài rất nhanh với tốc độ và mức độ phức tạp cao, nếu chúng ta không kịp thời, không tỉnh táo, không đủ sắc sảo thì sẽ bị động, mà bị động là thua! Do vậy, cần cố gắng chủ động nhất có thể.

Đương nhiên, nội hàm chủ động trong năm 2026 không giống với việc xác định và xây dựng thế chủ động ở những giai đoạn khác. Chẳng hạn nhìn lại chính sách Đổi mới ra đời lần đầu vào năm 1986, cách đây đúng 40 năm về trước, là rất khác. Đổi mới vào năm 1986 không đơn thuần là một Nghị quyết của Đại hội Đảng mà tôi cho đó là một cuộc cách mạng về tầm nhìn, về chiến lược và chính sách của Nhà nước để cứu xã hội và nền kinh tế Việt Nam khỏi một khủng hoảng có tính sinh tử. 

Những năm sau Đổi mới, tôi thường chia sẻ với bạn bè quốc tế rằng từ 1986, Việt Nam đã bắt đầu mở ra không gian và tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển, từng bước thoát khỏi sự ràng buộc cứng nhắc của mô hình hợp tác xã kiểu cũ. Khi đó, Việt Nam đã thừa nhận động lực lợi ích là chính đáng đối với người sản xuất. Trong mô hình trước đây, mọi thành quả lao động đều phải nộp về hợp tác xã và được phân phối lại một cách thiếu tương xứng với công sức bỏ ra, dẫn đến tình trạng người làm nhiều hay ít đều hưởng như nhau.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh kể lần nghe ông Kissinger nói đến chí hướng người Việt - 7

Sự thay đổi này phản ánh một bước chuyển quan trọng trong tư duy về năng suất lao động. Dù chưa trực tiếp đề cập đến khái niệm năng suất lao động cá thể hay kinh tế tư nhân trong cách diễn đạt, nhưng bản chất của các chính sách được áp dụng khi đó cho thấy một sự chuyển biến mạnh mẽ và thực chất. Chính điều này đã lý giải vì sao Việt Nam từ chỗ phải nhập khẩu gạo vào năm 1986 đã trở thành nước xuất khẩu gạo chỉ ba năm sau, vào năm 1989.

Trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, thành tựu sản xuất đạt được bắt nguồn từ đâu? Câu trả lời nằm ở việc người sản xuất, đặc biệt là nông dân, đã có được động lực rõ ràng, thiết thực và chính đáng: lao động gắn liền với lợi ích cụ thể, nhằm nuôi sống gia đình và vươn lên làm ăn khá giả hơn.

Vì vậy, theo tôi, để bạn bè quốc tế hiểu đầy đủ ý nghĩa của Đổi mới, cần nhìn nhận quá trình này không chỉ ở bình diện lý thuyết mà trong chính đời sống thực tiễn. Công cuộc Đổi mới năm 1986 đã thực sự tạo động lực cho người dân, và tinh thần ấy đến hôm nay vẫn cần được tiếp tục phát huy.

Muốn đất nước “cất cánh”, phải khơi dậy và huy động được sức mạnh của toàn xã hội, của cả dân tộc. Để sự hưởng ứng đó lan tỏa sâu rộng và mang tính thực chất, tất yếu phải có những chính sách đúng đắn, kịp thời và phù hợp với thực tiễn.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh kể lần nghe ông Kissinger nói đến chí hướng người Việt - 9

Sau 40 năm Đổi mới, khi bước vào giai đoạn phát triển tiếp theo, liệu có những bài học quốc tế nào mà Việt Nam nên nhìn vào hay không, thưa bà? Ví dụ bài học từ những con rồng, con hổ châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Singapore? 

– Tôi nhớ những năm đầu thập niên 1990, nhiều chuyên gia và quan chức trung, cao cấp của ta thường “xách cặp” đi học để tham khảo kinh nghiệm nước ngoài. Singapore là nơi đến thường xuyên nhất. 

Lúc đó, tôi có cơ hội tháp tùng Thủ tướng Võ Văn Kiệt (thời điểm Thủ tướng giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) đi dự Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos (Thụy Sĩ), gặp ông Lý Quang Diệu. Ở ta khi ấy vấn đề quan liêu, tham nhũng đang khá nhức nhối. Tôi nhớ rất rõ, đồng chí Võ Văn Kiệt hỏi ông Lý Quang Diệu “giữa hồng và chuyên phải ưu tiên cái gì?”. Ông Lý Quang Diệu trả lời, nên “vừa hồng vừa chuyên”, nhưng nếu buộc phải lựa chọn một và không có cách nào khác thì phải ưu tiên cho “hồng”, nghĩa là sạch sẽ. “Chuyên” đến đâu mà không sạch sẽ thì cũng không hiệu quả. 

Đối với các con rồng, con hổ đi trước, thì tôi xin lưu ý bối cảnh thế giới và xuất phát điểm của Việt Nam: ta từng bị cấm vận 20 năm. Cho nên, chúng ta có thể học hỏi Nhật Bản và Hàn Quốc nhưng chỉ một phần mà thôi. Hoàn cảnh của Việt Nam về mặt lịch sử rất khác họ. 

Bà Tôn Nữ Thị Ninh kể lần nghe ông Kissinger nói đến chí hướng người Việt - 11

Tôi cho rằng, trong quá trình phát triển của đất nước, phải luôn xem xét mối quan hệ giữa “thế” và “lực” gắn kết, cân đối, linh hoạt, tác động hỗ trợ qua lại cho nhau như thế nào. “Lực” đương nhiên vừa là kinh tế, vừa là quốc phòng. “Thế” chủ yếu là ngoại giao, sau này cũng có thể có thêm “sức mạnh mềm” là văn hóa và truyền thông, đặc biệt trong thế giới mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo (AI) đang ngày càng phát triển. Giữa “thế” và “lực” luôn phải có sợi dây gắn kết một cách biện chứng.

Ví dụ, nhiều nhà nghiên cứu địa chính trị cho rằng, thế giới hậu Chiến tranh lạnh là thời kỳ thế giới một cực, không còn Liên Xô, chỉ còn Hoa Kỳ. Bây giờ thế giới đa cực, với sự xuất hiện và khẳng định của Trung Quốc thì liệu có xuất hiện một trật tự kiểu mới hay không? 

Trước tình hình đó, các quốc gia không chỉ ngồi quan sát một cách bị động mà đang xây dựng “thế” và “lực” cho chính họ. “Thế” không thể tách khỏi “lực” được và “lực” cũng rất cần có “thế”. Kinh tế phát triển tốt phải có ngoại giao quảng bá, truyền thông cũng phải rất hiệu quả. Như vậy có một logic là, bắt đầu có “lực” thì “thế” phải hiệu quả, phải thích nghi với “lực” mới. 

Thời điểm hiện nay – đầu năm 2026 – chúng ta có thể tự tin để nói rằng, chúng ta đã đứng trước một con đường chắc chắn sẽ dẫn đất nước đến một cái đích tốt đẹp, chỉ là mất bao lâu. Nếu chậm quá thì sẽ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh kể lần nghe ông Kissinger nói đến chí hướng người Việt - 13

Năm 2004, tôi đang công tác ở Quốc hội thì Đại sứ quán Hoa Kỳ mời tôi dự một cuộc tọa đàm được ví là “Davos của Mỹ – tức một hội nghị quy tụ các nhà lãnh đạo chính trị, doanh nghiệp và xã hội hàng đầu” ở bang Colorado, nơi đặt trụ sở của viện nghiên cứu địa chính trị tên là Aspen Institute. Tới đó, tôi được mời tham gia phát biểu ở diễn đàn với các nhân vật quan trọng, trong đó có vợ của vua Jordan, có Tổng giám đốc của tập đoàn công nghệ Hewlett-Packard lúc bấy giờ. 

Họ cho tôi 3 phút phát biểu. Tôi nghĩ phải nói gì đó cho ấn tượng, bởi còn bao nhiêu người nối tiếp nhau nói sau đó, nếu mình không tạo ấn tượng thì các học giả, doanh nhân, nhà báo sẽ không để ý. Trong phát biểu của mình, tôi lập luận xong và kết thúc bằng một câu: “Hãy đặt Việt Nam vào tầm ngắm của các bạn”. Vì tôi cho rằng, các nhà báo đi tìm câu chuyện hay, các nhà doanh nghiệp thì đi tìm nơi đầu tư, các nhân vật nổi tiếng thì tò mò muốn tìm hiểu một nơi nào đó độc đáo. Nên tôi xây dựng câu “Put Viet Nam on your radar screen”, một câu nói mà tôi mất nửa đêm để suy nghĩ. 

Sau đó một tuần, tôi được mời đến dự diễn đàn khác ở California, có 2 cựu ngoại trưởng Mỹ cùng dự là ông Kissinger (thuộc đảng Cộng hòa) và bà Madeleine Albright (thuộc đảng Dân chủ). Tôi một lần nữa được phát biểu trong vài phút và cũng phải suy nghĩ rất nhiều về việc sẽ nói gì cho Việt Nam. 

Tôi đã chọn chủ đề “Cuộc chạy đua để phát triển”, mở đầu bằng ý rằng, các quốc gia trong cuộc cạnh tranh không thể đi bộ mà phải chạy, song nước này chạy thì nước kia cũng chạy, do đó vấn đề là phải chạy như thế nào và làm sao để chạy nhanh hơn. Tôi cho rằng, có thể sự khác biệt không chỉ là kỹ thuật chạy mà là động lực để chạy: chạy về đâu. Tôi đã dùng cụm từ tiếng Anh (sense of direction) với ý nghĩa “chốt chí hướng”. 

Tới phần hỏi – đáp, tôi rất ngạc nhiên khi thấy ông Kissinger giơ tay lên, tôi không biết ông định bình luận hay hỏi gì. Nhưng sau đó ông ấy chỉ đưa ra bình luận, và có một câu mà tôi sẽ viết trong cuốn hồi ký sau này của tôi. Ông ấy nói rằng, “Quý vị ơi, chớ cản đường người dân Việt Nam và chí hướng của họ, vì không chặn họ được đâu!”. Ông Kissinger năm 2004 đã nói như vậy đấy! 

Bà Tôn Nữ Thị Ninh kể lần nghe ông Kissinger nói đến chí hướng người Việt - 15

Thưa bà, khi tới dự những hội nghị đó và đứng trước các quan chức, học giả hàng đầu ở phương Tây, với tư cách là một đại diện đến từ Việt Nam, tâm thế của bà thế nào? Bà tự tin hay có sự rụt rè nào đó không?

– Ồ, rụt rè thì không! Tôi vốn là nhà giáo, đứng trước những người nghe mình giảng thì đã là ra trước công chúng rồi, dù công chúng trong một phạm vi hẹp mà thôi. Đến lúc tôi gia nhập mặt trận đối ngoại, như các bạn biết, trong ngoại giao – đối ngoại nói chung có những vế sau: một là đóng góp xây dựng chủ trương, chính sách; hai là đàm phán để đạt lợi ích hoặc bảo vệ lợi ích quốc gia; ba là truyền thông. Truyền thông là vế không thể thiếu, để cho thế giới biết được cái hay, cái đẹp của đất nước mình. 

Vậy lúc đó, tại sao Đại sứ quán Mỹ lại mời tôi tham dự diễn đàn, trong khi Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội còn nhiều đại biểu khác? Chắc vì họ đánh giá tôi có điều đáng nói, hoặc tôi nói cũng được (cười). Tôi cho rằng đây là minh chứng rõ cho yếu tố quan trọng thứ ba: truyền thông.

Truyền thông là một thứ vũ khí mà bấy lâu nay chúng ta đã xây dựng và vận dụng, nhưng theo tôi, cần tiếp tục đẩy mạnh và làm sâu sắc, hiệu quả hơn nữa.

Chính sách có tốt đến bao nhiêu cũng phải biết quảng bá và truyền thông, qua đó tạo nên tinh thần, khát vọng chung của cộng đồng, chứ không phải bằng hô hào, khẩu hiệu. 

Bà Tôn Nữ Thị Ninh kể lần nghe ông Kissinger nói đến chí hướng người Việt - 17

Chẳng hạn như với bà con Việt kiều, kiều bào ở nước ngoài, nếu ngay từ đầu chúng ta đã nói thẳng vào chính sách thì tôi cho về mặt sách lược là chưa trúng, mà trước hết phải hướng sự quan tâm của họ vào vấn đề của đất nước, để họ cảm thấy bản thân họ là một phần trong đó. Chúng ta không hỏi họ ngay rằng chính sách đã tốt chưa, mà cần đề cập: Đồng bào cảm thấy thế nào về thời điểm này? Cơ hội đã đến với đất nước chưa? Và trong cơ hội, thời vận đó thì đồng bào đóng góp được gì? 

Như vậy, bước đầu tiên chính là phải khơi dậy động lực, nuôi dưỡng khát vọng vươn lên cùng đất nước và dân tộc trong mỗi thành phần xã hội. Sau đó mới tới khâu đặt vấn đề về hành động.

Vừa rồi tôi có viết một bài ngắn về Giáo dục tinh hoa, trong đó đề cập việc cố gắng huy động nhân tài ở nước ngoài. Đó là một bài toán không dễ dàng. Làm sao thu hút họ về với quê hương khi đang làm ăn thuận lợi ở nước ngoài? Mà nếu có thành công thì cũng chỉ mời được số ít chứ không thể nhiều. Do đó, tôi đặt vấn đề một cách hài hước rằng, vậy thì ta thu hút một số “cấp tướng” về và đồng thời đào tạo “cấp tá” trong nước.

Ở đây, nhiệm vụ trung tâm của những trường tinh hoa tại Việt Nam là đào tạo “cấp tá”, đưa họ trở thành đội nhóm làm việc với một số “cấp tướng” thu hút được từ bên ngoài. Không loại trừ việc nếu thiết kế hiệu quả thì từ hàng ngũ “cấp tá” đó sẽ xuất hiện một số “tướng”. Tôi không tin chỉ những người đang làm ở nước ngoài mới thành “tướng” được.

Ý tôi muốn nhấn mạnh là điều kiện làm việc và những chủ trương, chính sách, môi trường để nhân tài phát huy năng lực không nên chỉ hướng về bên ngoài. Phải có giải pháp để đào tạo và sử dụng nhân tài “cấp tá” trong nước.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh kể lần nghe ông Kissinger nói đến chí hướng người Việt - 19

Nói đến câu chuyện trở về đóng góp cho quê hương, có lẽ cuộc đời của bà chính là một câu chuyện điển hình. Với những trải nghiệm riêng, bây giờ nếu có một cuộc trò chuyện với bà con Việt kiều, với những người Việt tài năng ở nước ngoài nhằm kêu gọi họ trở về đóng góp, bà sẽ nói điều gì với họ?

– Chắc là tôi sẽ kể cho họ tại sao tôi về. Thực ra, nếu mục đích của cuộc đời tôi là sống êm đềm, tôi đã ở lại Pháp. Tôi sẽ có một cuộc sống tạm đủ, lập gia đình, nuôi con, mùa hè thì đi chơi Tây Ban Nha chẳng hạn, hưởng thụ và sống thật nhẹ nhõm. Đó có thể là một cuộc sống đáng mơ ước, song với cá nhân tôi vẫn “thiếu” và sự êm đềm đó hơi vô vị.

Thực tế là sau Giải phóng ít lâu cũng đã có người phỏng vấn tại sao tôi về. Tôi trả lời rằng, “tôi đến nơi mà tôi tạo được sự khác biệt”. Tôi từng là một giảng viên của Đại học Paris, nhưng tôi không đặc biệt xuất sắc đến mức là người ta sẽ hướng về tôi hay nhờ tôi làm việc này việc kia thật lớn lao trong môi trường đại học. Tôi chắc chắn sẽ có một cuộc sống rất êm đềm, song không tạo được sự khác biệt. 

Trở về quê hương có thể cuộc sống không dễ dàng, thậm chí khó khăn, nhưng bản thân tôi cảm thấy  có những bài toán hóc búa đòi hỏi mình phải động não, xắn tay lên giải quyết và nếu thành công sẽ mang lại hạnh phúc lớn lao. 

Tôi nghĩ, tạo được sự khác biệt thì sự lao động của bản thân mới trở nên đặc biệt có ý nghĩa. Do đó, để thu hút nhân tài trở về, bài toán không chỉ là “lương bao nhiêu”, giúp họ mua/thuê căn hộ với giá cả thế nào mà còn cần những biện pháp tạo điều kiện cho họ làm việc có hiệu quả với điều kiện làm việc thuận lợi nhất có thể. 

Bà Tôn Nữ Thị Ninh kể lần nghe ông Kissinger nói đến chí hướng người Việt - 21

Cần phải để những người tài ở nước ngoài thấy được, nếu về Việt Nam, họ sẽ tạo được sự khác biệt trên con đường vươn lên của đất nước, của dân tộc – điều đó vô cùng có ý nghĩa. Họ trở thành một phần trong cuộc hành trình chung của dân tộc. Khi tiếp xúc với bà con Việt kiều và có sự vận động như vậy, người ta sẽ rất cảm động. Đó phải là cách tiếp cận chân thành, đi vào lòng người nhưng không màu mè, hoa mỹ. Phải “chạm” đúng chỗ, rằng đất nước rất cần, xã hội Việt Nam rất cần sự trở về cống hiến của họ, và sự tham gia đóng góp của họ sẽ tạo nên khác biệt nhất định. 

Do đó, theo tôi trong cuộc vận động nhân tài về nước, chúng ta cần phải nói rõ cho họ biết đất nước đang cần gì. Phải đưa ra một chuỗi những bài toán cụ thể, bởi nếu chỉ mời gọi chung chung thì họ không hình dung được khi trở về sẽ làm gì. Cũng cần tìm hiểu xem cách làm của một số đơn vị lớn trong nước, chẳng hạn như Vingroup đã từng mời được Giáo sư Vũ Hà Văn bằng cách nào? 

Từng là một nhà giáo và là một nhà ngoại giao, bà nhìn nhận ra sao về nguồn lực con người của Việt Nam? 

 – Tôi muốn bàn đến một phạm trù tổng hợp hơn, đó là “sức mạnh mềm” của đất nước, bao gồm nguồn lực con người. Tôi không muốn xem “sức mạnh mềm” đơn thuần là một công cụ, mà là một phần sức mạnh cốt lõi, góp vào tổng thể “thế” và “lực” của cả đất nước, dân tộc.

Chúng ta cần hiểu “sức mạnh mềm” là sức hút, sự hấp dẫn của một đất nước, mà trong bài toán “thế” và “lực” thì nó thuộc về “thế” nhiều hơn.

Chẳng hạn, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam chưa thật cao lắm, mới chỉ hơn 5.000 USD, nhưng tại sao người ta vẫn thích và nể Việt Nam? Từ đó chúng ta sẽ trả lời được về “sức mạnh mềm” của Việt Nam.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh kể lần nghe ông Kissinger nói đến chí hướng người Việt - 23

Nói đến con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam là nói đến cộng đồng chung, trong đó phải kể cả cộng đồng người Việt hải ngoại hơn 5 triệu người, trải qua chặng dài lịch sử, họ cùng góp phần định hình hình ảnh đất nước, dân tộc Việt Nam trong cảm nhận của cộng đồng quốc tế.

Nói đến “sức mạnh mềm” thì cũng không thể tách rời lịch sử. Ví dụ, nhắc tới Điện Biên Phủ năm 1954, ai cũng đều biết là đang nhắc đến nhân dân Việt Nam. 

Như vậy, con người, lịch sử và văn hóa là bộ 3 cốt lõi, căn bản nhất định vị “thế” và “sức mạnh mềm” của Việt Nam. Khi làm truyền thông đối ngoại, không thể không tính đến chiều kích lịch sử và văn hóa.

Thứ nhất về văn hóa, có người nói Việt Nam phải xây dựng và phát triển công nghiệp giải trí như Hàn Quốc. Một vài chương trình âm nhạc diễn ra vừa qua đã chứng minh rằng, nếu về kỹ thuật để làm mega concert (chương trình âm nhạc lớn) thì người Việt chúng ta không hề thua kém thế giới, nhưng liệu những concert này có lý giải đầy đủ về “sức mạnh mềm”? Vậy sức mạnh mềm của Việt Nam là gì?

Tôi thừa nhận Black Pink, BTS mang lại rất nhiều tiền cho Hàn Quốc, từ góc độ kinh tế là rất đáng nể. Song, những hiện tượng đó nói lên điều gì về con người và dân tộc Hàn Quốc để cho thế giới hiểu, quý mến và kính nể? Có lẽ tôi nói vậy cũng hơi quá. Nhưng giả sử tôi chưa sang Hàn Quốc bao giờ mà chỉ nhìn vào những show diễn đó, thì tôi chỉ cảm thấy sự sôi động và tươi trẻ, chứ không hiểu được thêm về đất nước, con người họ.

Do vậy, theo tôi, làm các mega concert thì cũng tốt, nhưng chưa đủ. Đó chỉ là một bước đầu tiên để chứng minh rằng, những sự kiện đại trà và tổ chức hoành tráng, Việt Nam hoàn toàn làm được. Vấn đề là làm sao để qua những hoạt động đó cho thấy chiều sâu và tính đa dạng của văn hóa Việt Nam.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh kể lần nghe ông Kissinger nói đến chí hướng người Việt - 25

Tôi lấy thêm ví dụ về áo dài, Hanbok và Kimono, là trang phục nữ truyền thống của Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật bản. Áo dài Việt Nam uyển chuyển qua thời gian và có nhiều hình thể: long trọng và truyền thống, đời thường, cách tân, hiện đại v.v. rồi đi vào đời sống, từ tà áo dài của những tiếp viên Vietnam Airlines cho đến áo dài của lễ tân, người phục vụ, người đi lễ, đi chơi, các dịp trang trọng. Còn Hanbok của Hàn Quốc thì mang tính chất long trọng, chủ yếu mặc dịp lễ tết, không phổ biến trong đời sống hàng ngày. Kimono cũng có Kimono thường, Kimono lễ tân, lễ nghi, song do đặc thù của trang phục này nên việc hiện đại hóa là không dễ. 

Qua những ví dụ trên, tôi muốn nói rằng tà áo dài Việt Nam – một nét văn hóa truyền thống của chúng ta, có những điểm mạnh nhất định để hiện đại hóa và để đưa vào đời sống hàng ngày.

Công nghiệp văn hóa không thể tách hoàn toàn khỏi văn hóa truyền thống, phải tìm cách hiện đại hóa, chiếu một số khía cạnh hiện đại vào văn hóa dân tộc để cho thế giới biết tới, từ đó, du khách nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài đến, họ có thể đi sâu vào tìm hiểu văn hóa Việt Nam. Phải lồng ghép văn hóa truyền thống vào hoạt động văn hóa hiện đại để khi thế giới tiếp cận, họ cảm nhận được cái gốc rễ văn hóa truyền thống ở trong hình thức hiện đại, tạo cho họ sự mong muốn để tìm hiểu sâu hơn, cụ thể hơn về văn hóa dân tộc.

Thứ hai là lịch sử. Trong truyền thông đối ngoại phải xây dựng năng lực kể chuyện. Vậy chúng ta kể chuyện gì, giới thiệu gì, diễn giải gì về Việt Nam? 

Còn nhớ năm xưa, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện ở Pháp về, làm ở Nhà xuất bản Ngoại văn. Chính những chuyên gia hiểu sâu về tâm lý, về cách nhìn nhận của nước ngoài như vậy thì mới giúp cho Nhà xuất bản Ngoại văn biết chọn lọc, dịch tác phẩm và làm sách hiệu quả.

Chúng ta không được lãng quên lịch sử. Chúng ta không để quá khứ ghìm chân, vẫn hợp tác với tất cả “cựu thù”, nhưng lịch sử là lịch sử. Trong hành trình lịch sử đó của Việt Nam bộc lộ những tố chất truyền thống và văn hóa, con người Việt Nam.

Tôi cho rằng, nhiệm vụ và trách nhiệm của ngành văn hóa và truyền thông là khá lớn. Tuy nhiên, ngành ngoại giao cũng phải có trách nhiệm trong đó. Bởi vì, ngành ngoại giao có thế thuận lợi nhất để tiếp cận với thế giới, dư luận bên ngoài. Cho nên, sự phối hợp giữa ngoại giao và văn hóa phải rất chặt chẽ. 

Bà Tôn Nữ Thị Ninh kể lần nghe ông Kissinger nói đến chí hướng người Việt - 27

Bà vừa đề cập đến 3 yếu tố rất quan trọng để đất nước phát triển: Thứ nhất là về con người, nguồn nhân lực; thứ hai là về lịch sử và thứ ba là văn hóa. Còn một động lực cũng rất quan trọng và đang được nhấn mạnh là khoa học công nghệ. Bà nghĩ sao về yếu tố này? 

– Đương nhiên trong tổng thể bài toán phát triển đất nước ở thế kỷ XXI thì không thể không có yếu tố khoa học công nghệ. Vấn đề làm sao để mình không chỉ là hưởng thụ và vận dụng mà còn phải kiến tạo được. Chẳng hạn như FPT và Viettel cũng đang xây dựng cho mình một thế kiến tạo chứ không đơn thuần là vận dụng. 

Về thu hút nhân tài từ các tập đoàn công nghệ lớn ở nước ngoài về, tôi cho là bài toán không hề dễ dàng, song cũng cần thiết. Tôi cũng có nghe câu chuyện về anh Lương Việt Quốc, từng sinh sông, làm việc ở Mỹ rồi trở về mở nhà máy sản xuất thiết bị bay không người lái (drone) tại Việt Nam, trở thành người Việt đầu tiên xuất khẩu drone công nghệ cao sang Mỹ. Để thấy là thành công trong lĩnh vực công nghệ ở nước ngoài có không ít người Việt, chọn ai để mời về cần có sự cân nhắc kết nối cho phù hợp.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh kể lần nghe ông Kissinger nói đến chí hướng người Việt - 29

Phát huy và đẩy cao “thế” của Việt Nam trong triển khai khoa học công nghệ không hề đòi hỏi chúng ta phải hy sinh nông nghiệp, bỏ bê nông nghiệp. Ngược lại, chính nông nghiệp là một phần trong cái “thế” của Việt Nam ở thế kỷ XXI. 

Tự lực giúp cho chúng ta có cái “thế” của mình và nông nghiệp cũng là một cái phần của cái “lực” Việt Nam. Hơn nữa, có nông nghiệp công nghệ cao thì rõ ràng 2 lĩnh vực đó không hề loại trừ nhau và thậm chí giúp cho cái thế của Việt Nam vững chãi hơn.

Khi nói về thế và lực, Việt Nam có nhiều thời cơ, thuận lợi để cất cánh trong giai đoạn tới. Song, bên cạnh những thuận lợi thì cũng còn tồn tại nhiều khó khăn. Bà quan tâm đến thách thức nào nhất trong chiều hướng phát triển của đất nước?

– Vấn đề tham nhũng và quan liêu vẫn còn, cho nên tôi nghĩ, các cấp lãnh đạo cần tiếp tục coi phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí là ưu tiên hàng đầu. Nghĩa là vẫn còn phải “chống và xây, xây và chống” chứ không chỉ xây mà thôi. Chúng ta đã mạnh mẽ, dứt khoát, công khai rồi và cần tiếp tục làm mạnh hơn nữa.

Khi tôi nói phải hun đúc sự đồng tình, hưởng ứng của đại đa số nhân dân thì một trong những “đòn bẩy” để người dân hưởng ứng và triển khai hiệu quả, đầy đủ các chủ trương, chính sách lớn của đất nước đó là: cần phải để họ cảm thấy có biến chuyển rõ ràng, thuyết phục trong chống quan liêu và đẩy lùi tham nhũng. 

Bà Tôn Nữ Thị Ninh kể lần nghe ông Kissinger nói đến chí hướng người Việt - 31

Thưa bà, trong suốt cuộc trò chuyện bà nhấn mạnh nhiều lần đến từ khóa “khác biệt”. Vậy theo bà, để chọn một yếu tố tạo sự khác biệt cho Việt Nam trong cuộc cạnh tranh toàn cầu vào giai đoạn tới thì bà sẽ chọn yếu tố gì?

– Tôi xin quay trở lại với lịch sử, văn hóa và con người. Lịch sử đã tôi luyện nên con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam về sự thích nghi đi đôi với kiên định thông qua những thử thách thăng trầm. Kiên định với mục tiêu, kiên định với những nguyên tắc của dân tộc và của Nhà nước, đất nước. Chúng ta thường nói đến hình ảnh cây tre, đến tính chất cương – nhu của người Việt, tất cả đều là trải qua thực tế. 

Khi tôi đọc những bình luận “Việt Nam giỏi thật” được nói ở ASEAN, rằng Việt Nam giữ vững độc lập, tự chủ, cân bằng quan hệ. Lịch sử đã tôi luyện con người Việt Nam như vậy, khéo léo nhưng mà rắn rỏi! 

Triết lý sống và đối ngoại (đối ngoại theo nghĩa rộng nhất của nó, theo nghĩa xuyên lịch sử) là chung sống với nước lớn, chung sống với cựu thù. Chúng ta có khả năng chung sống, làm lành với cựu thù nhưng vẫn tạo được sự tôn trọng lẫn nhau dù nước đó lớn đến đâu. Các bạn có thể tìm nghe podcast của cựu đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius. Ông ấy nói rằng: “Tôi học hỏi khá nhiều từ khả năng tha thứ, bao dung của người Việt”. Đó là con mắt của nước ngoài nhìn Việt Nam, không một ai dám coi thường Việt Nam cả.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh kể lần nghe ông Kissinger nói đến chí hướng người Việt - 33

Nếu như cách đây 20 năm bà đã nói với các đối tác nước ngoài rằng “hãy đặt Việt Nam vào tầm ngắm của các bạn” thì hôm nay bà có nói lại câu nói đấy không hay là bà sẽ nói một câu khác?

– Chắc phải hơi khác vì bây giờ Việt Nam đã được biết đến nhiều hơn. Nhưng câu đấy tôi mất nửa đêm để nghĩ ra mà bây giờ anh hỏi tôi ngay lúc này thì tôi thấy hơi khó đấy! (cười).

Tôi thấy có 2 ý là “đáng tin cậy” (reliable) và “dự đoán được” (predictable). Khi người ta định làm ăn với Việt Nam và muốn tiếp cận Việt Nam, thì phải thấy được chúng ta đáng tin cậy, dự đoán được chứ không phải hôm nay thế này, ngày mai thế kia. Chúng ta ngồi với các cường quốc bằng tư thế đĩnh đạc, không “nói xấu” bên nào, không nghiêng về bên nào mà tranh thủ tối đa cho Việt Nam, cho khu vực và cho thế giới. 

Tôi nghĩ trong bối cảnh thế giới hiện nay, 2 từ khóa nêu trên là rất quan trọng!

Và trong thời khắc đặc biệt này của đất nước, bà có lời khuyên, lời chia sẻ gì với các bạn trẻ không?

Một là, định vị bản thân là người Việt Nam. Người Việt Nam có thể sống ở bất cứ đâu, nhưng vẫn là người Việt. 

Hai là, phải có khát vọng. Khát vọng thì muôn màu muôn vẻ, nhưng phải có và phải kiên định nuôi dưỡng khát vọng đó, chứ không nên chỉ là mong muốn, ý thích nhất thời. 

Ba là, học, học nữa và học mãi. Điều đó không bao giờ lỗi thời. Ngày nay, với cách mạng trí tuệ nhân tạo (AI), thế giới chuyển động rất nhanh, tầm quan trọng của việc học càng lớn và nội hàm của học càng đa dạng và phức hợp. Tôi nghĩ, sự xuất hiện của AI đã tạo nên cả một bài toán khổng lồ mà chúng ta cũng mới chỉ tập tành trên hành trình này mà thôi. Tuổi trẻ cần phải đi trên hành trình đó một cách tỉnh táo và đầy năng lực.

Xin cảm ơn bà về cuộc trò chuyện này!

Nội dung: Võ Văn Thành, Bích Diệp

Ảnh: Trịnh Nguyễn

Video: Vũ Thịnh, Thúy Hường, Ánh Dương

Thiết kế: Tuấn Huy, Tuấn Nghĩa

Nguồn: https://dantri.com.vn/thoi-su/ba-ton-nu-thi-ninh-ke-lan-nghe-ong-kissinger-noi-den-chi-huong-nguoi-viet-20260224102643838.htm

DanTri Logo

Hello Mình là Cải

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Mới nhất
Cũ nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Tin Nóng Hôm Nay