Thứ bảy, Tháng hai 28, 2026
HomeThời SựGiá nào cho bát phở sân bay?

Giá nào cho bát phở sân bay?

Một hành khách đang trên đường sang Hàn Quốc, tạm dừng chân ở Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh trước khi bay tiếp tới Busan. Tại đây, vị khách này gọi phở, không kèm đồ uống. Tô phở được đánh giá không có gì quá đặc biệt, hương vị bình thường, định lượng bánh phở và thịt bò chỉ ở mức đủ ăn. Tuy nhiên, mức giá phải trả lên tới 346.000 đồng khiến người khách sốc nặng do gấp gần chục lần so với mức giá phở ở quê (Ninh Bình) và đắt đỏ hơn cả những địa điểm mà anh này đã đặt chân đến ở nước ngoài.

Về phía Công ty Cổ phần Nhà ga Quốc tế Cam Ranh, đơn vị cho biết sau khi tiếp nhận thông tin đã phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa xác minh. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng ghi nhận nhà hàng có niêm yết giá bằng đồng USD. Món khách sử dụng là phở bò Wagyu (loại thịt bò thượng hạng của Nhật Bản) nên giá cao hơn mặt bằng chung. Việc niêm yết giá 13,3 USD cũng hoàn toàn tuân thủ Thông tư 13/2024/TT-BGTVT cho phép niêm yết bằng ngoại tệ tại khu cách ly quốc tế.

Giá nào cho bát phở sân bay? - 1

Bát phở bò giá 346.000 đồng tại sân bay Cam Ranh (Ảnh: Nhân vật cung cấp).

Tuy vậy, sự việc vẫn gây tranh cãi. Người khách bức xúc do không được nhân viên đưa thực đơn hay tư vấn, chỉ trao đổi có 3 loại phở (bò, gà, đặc biệt) khiến anh đinh ninh đã gọi một bát phở bình thường. Khách hàng khẳng định không nhận được hóa đơn, được yêu cầu trả tiền mặt, không chuyển khoản nên cho đến khi thanh toán xong vẫn không hề biết đã ăn một bát phở bò Wagyu.

Sự việc này tiếp tục phơi bày một vấn đề trong môi trường sân bay. Khi bước qua cửa soi chiếu an ninh, người tiêu dùng không thể mang theo nước uống từ bên ngoài do quy định kiểm soát chất lỏng. Các quy luật cung – cầu của thị trường bình thường không còn hoạt động hiệu quả.

Vậy trên bình diện quốc tế, bài toán “giá trên không” này được các cơ quan quản lý giải quyết ra sao? Việc để mặc thị trường tự điều tiết thường dẫn đến giá cả phi lý; do đó, các quốc gia đã thiết lập những khung can thiệp rất đa dạng.

Nhìn từ lăng kính quốc tế về thu hẹp chênh lệch giá

Hoa Kỳ là quốc gia đi đầu trong việc thể chế hóa khái niệm “Street Pricing” (giá đường phố). Sân bay Quốc tế Portland được coi là hình mẫu lý tưởng với cơ chế “đồng giá tuyệt đối”. Tại đây, một ly cà phê Starbucks hay một chiếc bánh donut đều phải có giá chính xác bằng với giá niêm yết tại các chi nhánh bên ngoài trung tâm thành phố. Nếu muốn tăng giá trong sân bay, nhà hàng phải chứng minh họ cũng đã tăng giá ngoài phố. Nghiên cứu cho thấy, nhờ tâm lý không bị “chặt chém”, hành khách tại đây lại sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn.

Tuy nhiên, kinh doanh ở sân bay phải gánh chi phí khổng lồ từ logistics (hậu cần), an ninh cho đến nhân sự làm việc ca kíp. Hiểu được điều này, Cơ quan Cảng New York và New Jersey áp dụng mô hình “Street Pricing Plus 15%”, nghĩa là giá tại sân bay không được vượt quá giá đường phố cộng thêm tối đa 15%. Doanh nghiệp được thu thêm 3% phụ phí nhưng bị khóa chặt mục đích là chỉ để tài trợ phúc lợi và giữ chân nhân viên. Đáng chú ý, để được cộng thêm 15% này, nhà hàng bắt buộc phải chứng minh họ cung cấp các lựa chọn đồ ăn giá rẻ, bình dân trong thực đơn.

Tại châu Á, cách quản lý mang đậm tính giám sát và trao quyền cho người tiêu dùng. Sân bay Quốc tế Hồng Kông (Trung Quốc) thực thi “Chương trình giá đảm bảo”. Nếu khách hàng “mua hớ” so với giá tại các trung tâm thương mại sầm uất trong cùng một ngày, họ có quyền khiếu nại trực tuyến. Cơ quan quản lý sẽ xác minh và đền bù bằng phiếu quà tặng điện tử trong vòng 3 ngày làm việc. Đặc biệt, Hồng Kông coi nước lọc là nhu yếu phẩm sinh tồn chứ không phải hàng thương mại. Sân bay bắt buộc mọi cửa hàng phải bán ít nhất một loại nước tinh khiết với giá tối đa 10 đô la Hồng Kông (khoảng 32.000 đồng).

Trong khi đó, tại Liên bang Nga và Úc, các cơ quan chống độc quyền lại đóng vai trò rất quan trọng. Cơ quan chống độc quyền Liên bang Nga coi bất kỳ hành vi lạm dụng vị thế thống lĩnh thị trường để ép giá tiêu dùng nào cũng cấu thành tội phạm kinh tế, sẵn sàng phạt số tiền lớn. Tại Úc, Ủy ban Cạnh tranh và Người tiêu dùng theo dõi sát sao lợi nhuận và chi phí của các sân bay lớn, cảnh báo tái kiểm soát giá nếu phát hiện sân bay đẩy chi phí mặt bằng lên khiến đồ ăn đắt đỏ.

Bữa ăn bình dân không lọt thỏm

Một bài học khác đến từ việc giải quyết nhu cầu của tầng lớp bình dân, khi mà môi trường sân bay không phải chỉ dành cho người giàu.

Tại Thái Lan, sau những khủng hoảng truyền thông vì giá đồ ăn sân bay cao hơn đến 200% so với bên ngoài, Công ty Cảng Hàng không Thái Lan đã mở rộng mô hình “Magic Food Court” (khu ẩm thực bình dân). Bản chất đây là các căng-tin nội bộ dành cho nhân viên nhưng được mở cửa cho hành khách. Tại đây, thức ăn đường phố Thái Lan được bán với giá cực kỳ phải chăng (30-100 baht/món – tương đương với mức giá dưới 85.000 VND). Tương tự, sân bay Đào Viên (Đài Loan, Trung Quốc) quy hoạch các khu ẩm thực ở những khu vực ít hào nhoáng hơn, bán ẩm thực đặc sản với giá chuẩn thành phố.

Ở Ấn Độ, cơ quan quản lý nhận ra rằng chiến lược vé máy bay rẻ là vô nghĩa nếu một cốc trà tại sân bay tốn tới 250 rupee (gần 72.000 VND); chính phủ đã trực tiếp trợ giá các ki-ốt tại vị trí đắc địa. Mức giá được ấn định khi trà và nước đóng chai chỉ 10 rupee (tương đương 3.000 VND), cà phê và đồ ngọt chỉ 20 rupee.

Tái cấu trúc “luật chơi”?

Với sự mở rộng mạnh mẽ của hạ tầng hàng không Việt Nam, thiết nghĩ tư duy quản lý giá dịch vụ phi hàng không cần phải được thay đổi. Không thể tiếp tục dựa vào những quy định chung chung về “giá cả hợp lý”. Chúng ta cần những sự đổi mới mạnh mẽ.

Thứ nhất, nên áp dụng mô hình “Street Pricing Plus”. Cơ quan quản lý cần ban hành quy định pháp luật cụ thể, trong đó ràng buộc giá dịch vụ thiết yếu (đồ ăn, nước lọc…) ở sân bay vào giá thị trường nội địa. Có thể cho phép một biên độ cộng thêm (15-20% cho quốc nội, 30% cho quốc tế) để bù đắp chi phí kinh doanh trong môi trường đặc thù, nhưng tỷ lệ này phải được kiểm soát bằng các phân tích giỏ hàng tiêu chuẩn hằng năm.

Thứ hai, thiết lập một vùng đệm an sinh, trong đó quy định rõ về việc cảng hàng không, sân bay phải quy hoạch bắt buộc các vị trí để mở chuỗi ki-ốt giá bình dân. Các ki-ốt này bán mặt hàng cốt lõi với giá trần cố định (ví dụ: bánh mì 35.000 đồng, cà phê pha phin 25.000 đồng). Đồng thời, chúng ta nên học theo Hồng Kông khi áp đặt mức giá trần tuyệt đối, thống nhất toàn quốc cho nước lọc (ví dụ không quá 15.000 đồng/chai 500ml), áp dụng cho mọi cửa hàng.

Thứ ba, minh bạch tại điểm bán. Để chấm dứt sự thiếu minh bạch, nhân viên bán hàng không được phép nhận order miệng đối với các món cao cấp nếu chưa đưa thực đơn hoặc QR Code hiển thị rõ giá tiền để khách xác nhận. Đơn vị quản lý cảng hàng không cần đưa điều khoản bắt buộc chấp nhận thanh toán thẻ/QR và 100% xuất hóa đơn vào hợp đồng nhượng quyền; vi phạm 3 lần sẽ bị tước quyền kinh doanh.

Thứ tư, đổi mới tiêu chí đấu thầu. Tiền thuê mặt bằng cao cuối cùng cũng sẽ đổ lên đầu hành khách. Trong các đợt đấu thầu mặt bằng bán hàng dịch vụ thiết yếu, Nhà nước cần quy định cụ thể để điểm số tài chính chỉ nên chiếm 50-60%. Phần còn lại phải được đánh giá dựa trên “cam kết bình ổn giá” và “sự đa dạng của thực đơn giá rẻ”.

Việc chuyển đổi không gian bán hàng thiết yếu ở sân bay từ “nỗi e ngại bị chặt chém” thành một trung tâm thương mại chuyên nghiệp chính là một bước đi cần thiết để củng cố năng lực cạnh tranh và hình ảnh quốc gia của Việt Nam.

Tác giả: TS. Nguyễn Phước Thắng là chuyên gia chuyển đổi số và phát triển bền vững, giảng viên Khoa Kinh doanh và Logistics, Trường Đại học Hòa Bình. Ông có 25 năm kinh nghiệm công tác trong ngành hàng không, nguyên là Chánh Văn phòng, Trưởng phòng Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Cục Hàng không Việt Nam.

Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!

Nguồn: https://dantri.com.vn/tam-diem/gia-nao-cho-bat-pho-san-bay-20260228065420225.htm

DanTri Logo

Hello Mình là Cải

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Mới nhất
Cũ nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Tin Nóng Hôm Nay