Trong quá trình làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện việc sang tên, bà Tỷ Quyên (Gia Lai) phát hiện nhiều thông tin trên sổ đỏ không trùng khớp với thực tế sử dụng đất của gia đình.
Theo phản ánh, thửa đất được ghi trên sổ đỏ của bà Quyên thực tế lại đang do một người hàng xóm sử dụng. Trong khi đó, thửa đất mà gia đình bà đang sử dụng lại bị chia thành 2 thửa.
Trong đó, thửa đất có nhà ở lại đứng tên một người mà bà không quen biết, còn thửa đất đang trồng trọt lại đứng tên hàng xóm B.
Phần đất khoanh vàng là nơi bà Quyên đang sử dụng, còn phần khoanh xanh trên sổ đỏ lại đứng tên bà nhưng thuộc thửa đất hàng xóm đang sử dụng (Ảnh: Người dân cung cấp).
Hiện bà Quyên muốn làm thủ tục sang tên đối với thửa đất có nhà ở nhưng gặp vướng mắc vì giấy chứng nhận lại đứng tên người khác.
Do không phải chủ sử dụng đất theo giấy tờ, đơn vị dịch vụ mà bà thuê cho biết không thể thực hiện thủ tục sang tên. Đơn vị này đề xuất bà tìm người đang đứng tên trên sổ đỏ, photo giấy chứng nhận rồi làm thủ tục chuyển nhượng.
Tuy nhiên, người phụ nữ cho rằng hướng giải quyết này không hợp lý. Theo bà, việc cấp sai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải lỗi của gia đình bà, hơn nữa bà cũng không biết người đang đứng tên trên sổ đỏ là ai.
Bà Quyên muốn biết trong trường hợp này cần làm đơn đề nghị gì, nộp cho cơ quan nào, quy trình giải quyết ra sao, và việc xử lý có phát sinh chi phí hay không?
Trả lời vấn đề này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết việc xác định nguồn gốc và quá trình sử dụng đất để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thuộc thẩm quyền của địa phương.
Theo Bộ này, việc xem xét, giải quyết trường hợp cụ thể phải căn cứ vào hồ sơ quản lý đất đai cũng như các quy định chi tiết do địa phương ban hành, nên Bộ không có cơ sở để trả lời cụ thể đối với trường hợp của bà Quyên.
Tuy nhiên, Bộ nêu nguyên tắc chung liên quan đến việc xử lý khi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp không đúng đối tượng.
Theo điểm d khoản 2 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024, Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp nếu giấy được cấp không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp.
Khoản 3 Điều 152 của luật này cũng quy định các trường hợp thực hiện việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định.
Khoản 3 Điều 152 Luật Đất đai 2024 cũng quy định các trường hợp thực hiện thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp sai.
Theo đó, nếu tòa án có bản án hoặc quyết định có hiệu lực thi hành kết luận về việc thu hồi Giấy chứng nhận thì cơ quan có thẩm quyền sẽ thực hiện thu hồi theo bản án, quyết định đó.
Trường hợp cơ quan thanh tra có kết luận bằng văn bản rằng Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền phải xem xét và quyết định thu hồi nếu kết luận đó là đúng.
Ngoài ra, nếu chính cơ quan cấp Giấy chứng nhận phát hiện việc cấp sai thì phải kiểm tra lại, thông báo cho người sử dụng đất biết lý do và quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định.
Luật cũng quy định trường hợp người sử dụng đất phát hiện Giấy chứng nhận được cấp không đúng quy định thì có quyền gửi kiến nghị bằng văn bản đến cơ quan đã cấp Giấy chứng nhận để cơ quan này kiểm tra, xem xét và quyết định việc thu hồi.
Cơ quan có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận trong các trường hợp này chính là cơ quan đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai.
Đối với trường hợp của bà Quyên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị bà liên hệ cơ quan quản lý đất đai tại địa phương nơi có đất để được hướng dẫn và giải quyết cụ thể theo quy định của pháp luật.
Nguồn: https://dantri.com.vn/ban-doc/lam-lai-so-do-nguoi-phu-nu-ta-hoa-vi-dat-cua-minh-hang-xom-dang-o-20260312105840840.htm

