Thứ sáu, Tháng ba 20, 2026
HomeKinh DoanhKỷ nguyên mới của nông nghiệp Việt: Xuất khẩu công nghệ và...

Kỷ nguyên mới của nông nghiệp Việt: Xuất khẩu công nghệ và di sản

Những kỳ vọng lớn lao

Phát biểu tại lễ kỷ niệm 80 năm ngành nông nghiệp Việt Nam năm 2025, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu tái cấu trúc căn bản tư duy phát triển: “Phải đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo vào trung tâm của sản xuất nông nghiệp”. Ngành nông nghiệp cần “chuyển mạnh tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp; từ sản lượng sang chất lượng, hiệu quả và bền vững”.

Kỷ nguyên mới của nông nghiệp Việt: Xuất khẩu công nghệ và di sản - 1

Công nghiệp hóa nông nghiệp là bước đi tất yếu để tăng dấu ấn nông sản Việt trên bàn ăn thế giới (Ảnh: Trần Mạnh).

LỜI TÒA SOẠN

Nửa thế kỷ trước, Việt Nam bước ra khỏi chiến tranh với một nền nông nghiệp manh mún và nhiều phụ thuộc. Hạt gạo khi ấy là câu chuyện của sinh tồn.

Hôm nay, hạt gạo đã trở thành một “tấm hộ chiếu” kinh tế. Nhưng câu chuyện không dừng lại ở xuất khẩu nông sản, Việt Nam đang bước vào một chặng đường mới: Xuất khẩu cách làm nông nghiệp.

Từ những cánh đồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long, mô hình sản xuất nông nghiệp Việt Nam đang âm thầm “đi xa” hơn biên giới. Ở châu Phi, những vùng đất từng bị bỏ hoang đã được phủ xanh bởi các giống lúa ngắn ngày, kỹ thuật canh tác tiết kiệm nước và phương thức quản trị mùa vụ đơn giản nhưng hiệu quả.

Ở một lát cắt khác, câu chuyện ngành điều Campuchia cho thấy một “bản đồ ảnh hưởng” rộng hơn của nông nghiệp Việt Nam. Hay sau nhiều năm nỗ lực, cá tra của Việt Nam đã có mặt trong thực đơn món sushi của Nhật Bản.

Không chỉ tham gia chuỗi giá trị. Việt Nam đang góp phần định hình chuỗi giá trị. Tuyến bài này được thực hiện trong bối cảnh đó.

Kỳ 1: Chuyên gia Việt Nam biến vùng đất bỏ hoang ở châu Phi thành cánh đồng lúa trĩu hạt

Kỳ 2: Dấu ấn Việt Nam phía sau sự phát triển thần kỳ của ngành điều Campuchia

Kỳ 3: Hành trình phi thường của cá tra Việt Nam tại Nhật Bản

Tổng Bí thư khẳng định rõ định hướng chiến lược: Nông nghiệp Việt Nam không chỉ xuất khẩu nông sản, mà cần hướng tới xuất khẩu công nghệ, kinh nghiệm và mô hình phát triển nông nghiệp để thu lợi nhuận và nâng cao vị thế quốc gia.

Thông điệp này phản ánh một sự dịch chuyển về tầm nhìn quốc gia. Nếu giai đoạn trước đây, thành công của ngành lúa gạo, hạt tiêu, hạt điều, cà phê… được đo bằng số triệu tấn xuất khẩu mỗi năm, thì nay thước đo mới là năng lực chuẩn hóa quy trình, làm chủ công nghệ, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và khả năng chuyển giao ra quốc tế.

Cùng chung định hướng đó, Thủ tướng Phạm Minh Chính trong nhiều chuyến công tác tại châu Phi và Mỹ Latin đã khẳng định: Việt Nam sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ, hợp tác sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa gạo, với các nước để cùng bảo đảm an ninh lương thực.

Thủ tướng nhấn mạnh nông nghiệp không chỉ là “trụ đỡ của nền kinh tế” trong những giai đoạn khó khăn, mà phải trở thành “động lực tăng trưởng mới” nếu được phát triển theo hướng “xanh, bền vững, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao giá trị gia tăng và mở rộng thị trường xuất khẩu”.

Kỷ nguyên mới của xuất khẩu nông nghiệp Việt Nam vì vậy không chỉ được tính bằng tấn gạo rời cảng, mà bằng khả năng chuyển giao tri thức, công nghệ và mô hình phát triển bền vững ra toàn cầu – một bước tiến chiến lược đưa Việt Nam từ vị thế quốc gia cung ứng lương thực sang quốc gia cung ứng giải pháp cho an ninh lương thực thế giới.

Từ gia công thành người thiết lập luật chơi

Bà Lê Hoàng Diệp Thảo – Tổng giám đốc TNI Corporation – bày tỏ trăn trở khi Việt Nam đứng đầu thế giới về sản lượng cà phê robusta, nhưng trên thị trường quốc tế dòng cà phê này vẫn thường bị xem là nguyên liệu giá rẻ dùng để pha trộn. Hệ quả là người nông dân – những người tạo ra giá trị gốc rễ – lại ở vị trí bấp bênh nhất trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu.

Theo bà Thảo, để thay đổi nghịch lý này, ngành cà phê Việt Nam cần tái định vị hình ảnh cà phê Việt Nam trong mắt người tiêu dùng quốc tế, chứng minh được giá trị thật của hạt cà phê Việt. Hướng đi được lựa chọn là phát triển robusta theo tiêu chuẩn cà phê đặc sản (fine robusta).

“Chúng tôi làm việc trực tiếp với nông dân Tây Nguyên để thay đổi toàn bộ quy trình canh tác: Từ thu hái xô sang hái chín 100%, áp dụng phương pháp sơ chế tự nhiên và lên men có kiểm soát. Chúng tôi muốn chứng minh hạt robusta Việt Nam hoàn toàn có thể mang đến những hương vị cao cấp và phá vỡ định kiến cà phê giá rẻ của thế giới”, bà Thảo nói.

Kỷ nguyên mới của nông nghiệp Việt: Xuất khẩu công nghệ và di sản - 2

Nhiều doanh nghiệp đầu tư vùng trồng và phương pháp chế biến cà phê robusta Việt Nam theo hướng đặc sản, cao cấp để nâng giá trị xuất khẩu (Ảnh: Trần Mạnh).

Song song đó, TNI đang phối hợp với tỉnh Lâm Đồng phục hưng vùng nguyên liệu đặc sản Cầu Đất (Đà Lạt) – khu vực có độ cao và điều kiện thổ nhưỡng được đánh giá không thua kém các thủ phủ arabica trên thế giới. Trong thời gian qua, công ty đã lai tạo và phục tráng được giống cà phê cổ từng thất truyền hơn một thế kỷ, vốn là nguồn gen quý từ thời Pháp thuộc với hương vị độc bản mà không quốc gia nào sở hữu.

“Khi khôi phục và đưa giống cà phê này ra thế giới, chúng ta không chỉ bán một thức uống mà còn đóng gói cả di sản và chiều sâu văn hóa Việt Nam vào từng sản phẩm. Khách hàng quốc tế ở phân khúc cao cấp sẵn sàng trả giá rất cao cho những câu chuyện có thật và độc bản như thế”, bà Thảo chia sẻ.

Kỷ nguyên mới của nông nghiệp Việt: Xuất khẩu công nghệ và di sản - 3

Chế biến cá tra xuất khẩu (Ảnh: VASEP).

Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Trà My – Tổng giám đốc Tập đoàn PAN – cho biết ngay từ những ngày đầu thành lập, các nhà sáng lập đã xác định một triết lý nhất quán: Một quốc gia nông nghiệp không thể mãi dựa vào xuất khẩu thô và lợi thế số lượng. Nông nghiệp Việt Nam phải được xây dựng trên nền tảng chất lượng và giá trị gia tăng.

Theo bà Trà My, mục tiêu của doanh nghiệp là đưa các sản phẩm nông sản chế biến sâu mang thương hiệu “Made in Vietnam” chinh phục những thị trường khắt khe như Nhật Bản, châu Âu và Hoa Kỳ. Để làm được điều đó, doanh nghiệp lựa chọn chiến lược xây dựng hệ sinh thái quy tụ các công ty đầu ngành trong lĩnh vực nông nghiệp – thực phẩm. Xương sống của toàn bộ chiến lược này chính là R&D. Không có khoa học công nghệ, nông nghiệp khó có thể phát triển bền vững và cạnh tranh lâu dài.

“Đích đến cuối cùng của nền nông nghiệp hiện đại không chỉ là bán hàng thu tiền. Chúng ta phải xuất khẩu được thương hiệu, uy tín và tri thức. Và tôi luôn tin tưởng rằng nông nghiệp Việt Nam không hề thua kém bất kỳ ai – chúng ta thực sự sinh ra để nuôi dưỡng thế giới”, bà Trà My khẳng định.

Văn hóa là lợi thế của nông nghiệp Việt

Trao đổi với Dân trí, ông Nguyễn Đình Tùng – Tổng giám đốc Công ty Vina T&T – cho rằng chuỗi giá trị của ngành rau quả chỉ thực sự hiệu quả khi được vận hành theo ba tầng nấc rõ ràng. Tầng thứ nhất là xuất khẩu trái cây tươi, phân khúc mang lại giá trị cao nhất cho nông dân. Tầng thứ hai là thị trường nội địa, tiêu thụ những sản phẩm vẫn đạt chuẩn về hương vị nhưng không đáp ứng quy cách xuất khẩu. Tầng thứ ba, mang tính quyết định đến sự bền vững của ngành, là chế biến sâu nhằm tận dụng những loại trái cây bị hao hụt về ngoại hình trong thu hoạch hoặc chưa đạt độ ngọt tối ưu.

“Nếu làm tốt cả 3 tầng này, ngành rau quả sẽ triệt tiêu được sự lãng phí, bảo vệ môi trường và tối ưu hóa lợi nhuận. Theo tôi, đó chính là tinh thần của nền công nghiệp nông nghiệp mà Tổng Bí thư và Thủ tướng đã định hướng”, ông Tùng chia sẻ.

Kỷ nguyên mới của nông nghiệp Việt: Xuất khẩu công nghệ và di sản - 4

Ngày càng có nhiều loại trái cây tươi Việt Nam tiếp cận các thị trường khó tính và cao cấp (Ảnh: Trần Mạnh).

Theo ông Tùng, Việt Nam còn sở hữu một lợi thế gần như không thể sao chép: Điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu tạo nên những loại đặc sản mang bản sắc riêng. Thực tế đã chứng minh khi người tiêu dùng quốc tế ban đầu có thể chưa biết dừa xiêm Bến Tre là gì, nhưng khi đã trải nghiệm họ đã bị chinh phục bởi độ ngọt và hương vị khác hẳn với dừa Thái Lan. Và khi đã bị thuyết phục bởi những hương vị độc đáo đó, họ ghi nhớ cái tên ấy cho những lần mua sắm sau.

Hiện nay, từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, khách hàng tại thị trường Mỹ thường “réo gọi” vú sữa Lò Rèn để bán cho người tiêu dùng; còn từ tháng 7 đến tháng 10, họ chờ đợi mùa thanh nhãn. Điều đó cho thấy nông sản Việt Nam đã dần hình thành thói quen tiêu dùng và sự mong đợi theo mùa vụ từ phía các nhà nhập khẩu.

“Tương lai của rau quả Việt Nam nằm ở việc kể câu chuyện văn hóa vùng miền thông qua từng sản phẩm. Khi thương hiệu trái cây tươi đã được khẳng định, các sản phẩm chế biến sâu đi kèm sẽ tự nhiên có chỗ đứng trên thị trường. Hãy nhìn cách New Zealand xuất khẩu kiwi đạt khoảng 3,6 tỷ USD mỗi năm, hay cách Mỹ định vị táo Washington, Hàn Quốc định vị nho mẫu đơn như những tham chiếu. Đó là đẳng cấp thương hiệu quốc gia mà ngành rau quả Việt Nam hoàn toàn có thể và cần phải hướng tới”, ông Tùng nhấn mạnh.

Nguồn: https://dantri.com.vn/kinh-doanh/ky-nguyen-moi-cua-nong-nghiep-viet-xuat-khau-cong-nghe-va-di-san-20260306111213154.htm

DanTri Logo

Hello Mình là Cải

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Mới nhất
Cũ nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Tin Nóng Hôm Nay