Thứ bảy, Tháng ba 21, 2026
HomeCông NghệNhà khoa học chỉ 'điểm nghẽn' khiến kết quả nghiên cứu khó...

Nhà khoa học chỉ ‘điểm nghẽn’ khiến kết quả nghiên cứu khó ra thị trường

Nhiều sản phẩm nghiên cứu đã hoàn thiện, có doanh nghiệp quan tâm nhưng vẫn “kẹt” trong phòng thí nghiệm do vướng cơ chế sở hữu và định giá, theo lãnh đạo trường Đại học Bách khoa TP HCM.

Ý kiến được PGS.TS Phạm Trần Vũ, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa (ĐH Quốc gia TP HCM), Phó chủ tịch Hội Công nghệ vi mạch bán dẫn TP HCM, đưa ra tại hội thảo hợp tác “3 nhà” trong xây dựng chính sách, nghiên cứu, đào tạo và phát triển sản phẩm điện tử, bán dẫn tại TP HCM, chiều 20/3.

PGS.TS Phạm Trần Vũ, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa TP HCM, phát biểu tại hội thảo, chiều 20/3. Ảnh: An Phương

PGS.TS Phạm Trần Vũ, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa TP HCM, phát biểu tại hội thảo, chiều 20/3. Ảnh: An Phương

Nhắc lại câu chuyện một nhóm giảng viên tại trường Đại học Bách khoa TP HCM được ngân sách hỗ trợ nghiên cứu phát triển thành công thiết bị đo nước điện tử, có khả năng đọc chỉ số từ xa qua mạng LoRa. Sản phẩm hoàn thiện và đã đăng ký bản quyền.

Sau đó, một doanh nghiệp bày tỏ mong muốn tiếp nhận công nghệ để thương mại hóa. Tuy nhiên, quá trình chuyển giao bị “tắc” khi các bên không tìm được cơ chế phù hợp để định giá và chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ.

Theo ông Vũ, nguyên nhân nằm ở chỗ đề tài sử dụng ngân sách nhà nước, nên kết quả nghiên cứu được xem là tài sản công. Thời điểm đó, các bên không rõ cách thức chuyển nhượng, khai thác hay chia sẻ lợi ích đối với loại tài sản này. Doanh nghiệp không thể đợi lâu nên bỏ cuộc khiến kết quả nghiên cứu vẫn “kẹt” lại trong ngăn bàn.

Tài sản công vô tình thành rào cản

Từ góc nhìn của nhà khoa học trực tiếp tham gia R&D, PGS.TS Phạm Trần Vũ cho rằng Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp đang có bốn mô hình hợp tác phổ biến. Mỗi mô hình có những ưu, nhược điểm khác nhau.

Đầu tiên là mô hình Nhà nước tài trợ, trong đó nhà trường và doanh nghiệp cùng xây dựng đề xuất để xin kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học. Ưu điểm của mô hình này là có định hướng chiến lược rõ ràng, huy động được nguồn lực lớn, giúp các bên tham gia mà không chịu áp lực tài chính trực tiếp.

Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của mô hình này là thủ tục hành chính kéo dài, có những đề tài mất nhiều năm mới được phê duyệt, đến khi triển khai thì nội dung đã lạc hậu. Bên cạnh đó, các kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách thường bị xem là tài sản công, gây khó khăn cho thương mại hóa. Ngoài ra, do không phải bỏ vốn, doanh nghiệp nhiều khi không thực sự cam kết tham gia sâu.

Thứ hai là mô hình Nhà nước và doanh nghiệp đồng tài trợ. Khi doanh nghiệp cùng góp vốn, mức độ cam kết cao hơn và họ tham gia nhiều hơn vào quá trình nghiên cứu. Tuy nhiên, vì vẫn có yếu tố ngân sách, mô hình này tiếp tục vướng các thủ tục hành chính và quy định về tài sản công. Quy trình phức tạp cũng làm giảm động lực của doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh họ phải vừa bỏ vốn vừa chịu ràng buộc như sử dụng toàn bộ vốn nhà nước.

Thứ ba là mô hình doanh nghiệp đặt hàng trực tiếp cho nhà trường. Đây là mô hình được đánh giá hiệu quả vì gắn chặt với nhu cầu thực tiễn, doanh nghiệp theo sát quá trình nghiên cứu và sản phẩm có khả năng ứng dụng cao. Tuy nhiên, hạn chế nằm ở chỗ phần lớn doanh nghiệp Việt Nam là vừa và nhỏ, không đủ nguồn lực để đầu tư cho các dự án R&D vốn kéo dài và rủi ro cao.

Cuối cùng là mô hình doanh nghiệp hợp tác trực tiếp với từng nhà khoa học. Cách làm này linh hoạt, nhanh, nhưng vai trò của nhà trường bị mờ nhạt, khó hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh và chiến lược dài hạn.

Từ các mô hình trên, lãnh đạo trường Đại học Bách khoa TP HCM đánh giá những mô hình có Nhà nước tham gia thường có quy mô lớn, định hướng tốt nhưng thiếu linh hoạt; ngược lại, mô hình do doanh nghiệp dẫn dắt thì linh hoạt và sát nhu cầu nhưng thiếu nguồn lực để phát triển dài hạn.

Cần cơ chế linh hoạt để kết nối nghiên cứu với thị trường

Lãnh đạo trường Đại học Bách khoa TP HCM cho rằng để thúc đẩy hợp tác “3 nhà”, cần thay đổi cách tiếp cận chính sách. Trước hết, Nhà nước nên chuyển từ tư duy “đặt hàng sản phẩm” sang “tài trợ nghiên cứu”. Khi coi ngân sách là tài trợ, các ràng buộc hành chính và áp lực đầu ra sẽ giảm, tạo không gian linh hoạt hơn cho nhà khoa học. Đặc biệt, phải làm rõ khung pháp lý về sở hữu trí tuệ và thương mại hóa, nhằm giải phóng các kết quả nghiên cứu ra khỏi “vùng xám” của tài sản công.

Phòng thí nghiệm bán dẫn Trung tâm nghiên cứu triển khai, Khu công nghệ cao TP HCM, tháng 12/2024. Ảnh: Quỳnh Trần

Nghiên cứu viên làm việc tại Phòng thí nghiệm bán dẫn Trung tâm nghiên cứu triển khai, Khu công nghệ cao TP HCM, tháng 12/2024. Ảnh: Quỳnh Trần

Từ thực tế triển khai sản phẩm, đại diện Công ty cổ phần điện tử Digisensor (D.G.S) ở Khu công nghệ cao TP HCM mang đến ví dụ điển hình về thành công trong hợp tác “3 nhà”. Doanh nghiệp này phát triển các dòng đồng hồ nước thông minh cho phép truyền dữ liệu từ xa. Sản phẩm ban đầu được phát triển từ đơn hàng của thị trường Thái Lan. Đến giai đoạn 2021-2022, khi Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn (Sawaco) có nhu cầu số hóa hệ thống đo nước, D.G.S tiếp tục hoàn thiện giải pháp để cung cấp khoảng 15.000 thiết bị.

Theo doanh nghiệp, thành công này đến từ sự kết hợp của ba bên. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò định hướng và tạo thị trường, thông qua chủ trương chuyển đổi số và các chương trình triển khai thực tế như của Sawaco, tức ra “đầu bài” rõ ràng. D.G.S là trung tâm phát triển sản phẩm, trực tiếp đầu tư công nghệ, hoàn thiện giải pháp, từ thiết bị phần cứng đến phần mềm quản lý như ứng dụng theo dõi rò rỉ nước, tối ưu vận hành.

Trong khi đó, các trường đại học và viện nghiên cứu như Bách khoa, Sư phạm Kỹ thuật tham gia vào quá trình nghiên cứu, hỗ trợ phát triển công nghệ và hoàn thiện sản phẩm.

Bà Nguyễn Thị Thu Sương, Trưởng phòng Phát triển khoa học công nghệ (Sở Khoa học và Công nghệ TP HCM), cho biết quy định mới về nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã phân định rõ hai hình thức là “đặt hàng” và “tài trợ”, nhằm tháo gỡ vướng mắc trong chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Theo đó, với nhiệm vụ đặt hàng, Nhà nước là bên sở hữu kết quả nghiên cứu, thường áp dụng cho các dự án trọng điểm, công nghệ chiến lược hoặc giải quyết vấn đề cấp thiết.

Trong khi đó, với nhiệm vụ tài trợ hoặc đồng tài trợ, tổ chức chủ trì như viện, trường, doanh nghiệp được giao quyền sở hữu kết quả, tự quyết định việc thương mại hóa và không phải hoàn trả kinh phí. Đặc biệt, cơ chế mới cho phép thương mại hóa linh hoạt hơn, đồng thời yêu cầu tác giả được hưởng tối thiểu 30% lợi nhuận từ việc khai thác kết quả nghiên cứu.

“Các quy định mới nhằm gỡ nút thắt về thể chế, tạo động lực cho doanh nghiệp tham gia và bảo đảm quyền lợi của nhà khoa học”, bà Sương nói.

Lê Tuyết

Nguồn: https://vnexpress.net/nha-khoa-hoc-chi-diem-nghen-khien-ket-qua-nghien-cuu-kho-ra-thi-truong-5053081.html

VnExpress Logo

Hello Mình là Cải

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Mới nhất
Cũ nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Tin Nóng Hôm Nay