Chủ Nhật, Tháng ba 22, 2026
HomeĐời Sống8 tháng 'bị làm vua' của Nguyễn Phúc Ưng Đăng

8 tháng ‘bị làm vua’ của Nguyễn Phúc Ưng Đăng

Theo thế phả họ Nguyễn Phúc: “Ngài (Ưng Đăng) là người sớm hiểu biết, tính tình thận trọng, trang nghiêm, biết giữ đạo làm con, lại ham thích sách vở nên vua Dực Tông (Tự Đức) rất yêu thương. Vua sai các quan mang tấu chương ở các nha thuộc của các bộ đến cắt nghĩa cho ngài rõ để tập quen chính sự, ý muốn cho ngài nối ngôi, nhưng tuổi ngài lúc đó còn quá nhỏ” (Nguyễn Phúc tộc thế phả, 1995, tr. 383).

Cuối cùng Ưng Đăng cũng “được” làm vua, đúng ra là “bị” làm vua, trong một hoàn cảnh rất éo le. Theo nhà sử học Yoshiharu Tsuboi: Việc vua Tự Đức chọn Dục Đức lên nối ngôi đã trở thành nguồn gốc cho một chuỗi biến loạn trong cung đình Huế. Nguyễn Văn Tường có con trai lấy chị ruột của Ưng Đăng nên muốn Ưng Đăng lên làm vua để tăng thêm vây cánh cho mình.

Việc không thành, Nguyễn Văn Tường tỏ ra bất mãn, nên cùng với Tôn Thất Thuyết tìm cách phế truất Dục Đức. Nhưng sau khi loại bỏ Dục Đức, Tôn Thất Thuyết lại không chọn Ưng Đăng như ý muốn của Nguyễn Văn Tường mà chọn Hồng Dật (vua Hiệp Hòa) để đưa lên ngôi. Vì thế, sau khi Hiệp Hòa bị phế truất và bức tử, Nguyễn Văn Tường nhanh chóng tiến cử Ưng Đăng lên ngai vàng.

Triều Nguyễn một góc nhìn khác: 8 tháng 'bị làm vua' của Nguyễn Phúc Ưng Đăng- Ảnh 1.

Bồi lăng, nơi yên nghỉ của vua Kiến Phúc

Ảnh: Trần Đức Anh Sơn

Sau sự kiện vua Dục Đức bị phế, lấy cớ hầu hạ nhang khói cho vua Tự Đức, Ưng Đăng rời Đại Nội lên sống trong Khiêm Lăng, nhưng thực ra là do muốn tránh xa những hiểm họa ở trong triều. Vậy nhưng ông cũng không được yên thân. Đêm 28.11.1883, người của Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường lên tận Khiêm Lăng cưỡng ép Ưng Đăng rước về hoàng cung. Ngày 2.12.1883, Ưng Đăng được tấn tôn lên ngai vàng, lấy niên hiệu là Kiến Phúc. Gọi là vua, nhưng Kiến Phúc không có chút quyền bính nào, mọi việc trong triều đều hai vị Phụ chính đại thần sắp đặt.

Đối với người Pháp, việc Kiến Phúc lên nối ngôi là một nguy cơ. Bởi lẽ, do vua còn nhỏ tuổi, quyền hành không có, nên không thể can ngăn hai vị đại thần “gây chiến” với người Pháp.

Khâm sứ Trung Kỳ lúc đó là De Champeaux sợ Tôn Thất Thuyết có thể tấn công Tòa Khâm sứ nên yêu cầu Léjard, người đang chỉ huy lực lượng Pháp ở cửa biển Thuận An, tăng cường cho Tòa Khâm sứ thêm 100 lính và một chiếc pháo hạm neo đậu trên sông Hương, ngay phía trước Tòa Khâm sứ Trung Kỳ, để đề phòng bất trắc. De Champeaux cũng không chịu thừa nhận vua Kiến Phúc, cắt đứt mọi liên lạc với triều Nguyễn, cố thủ trong Tòa Khâm sứ để chờ viện binh từ Nam Kỳ.

Ở Bắc Kỳ, quân Pháp lần lượt đánh chiếm các tỉnh thành Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Tuyên Quang do quan quân triều đình trấn giữ. Trong khi đó, quân Cờ Đen của người Trung Quốc, do triều đình nhà Nguyễn cầu viện sang giúp đánh Pháp, lại đang chiếm giữ các tỉnh thành ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai. Trước tình thế trên, người Pháp nhận thức rằng muốn giải quyết vấn đề Việt Nam một cách hữu hiệu, trước tiên phải dàn xếp với triều đình nhà Thanh. Và họ đã làm được điều đó nhờ một hiệp ước được ký kết với nhà Thanh tại Thiên Tân vào ngày 5.5.1884. Hiệp ước này gồm 5 điều khoản, thỏa thuận chia sẻ quyền lợi của người Trung Hoa với người Pháp ở Việt Nam.

Có được thỏa thuận với Thanh triều, tình hình Bắc Kỳ đã tạm yên do quân Cờ Đen đã rút về bên kia biên giới theo quy định của Hiệp ước Thiên Tân, Pháp tập trung giải quyết chuyện ở Trung Kỳ. Vin vào cớ tình hình có nhiều thay đổi có liên quan đến Việt Nam sau khi Hiệp ước Thiên Tân được ký kết, người Pháp quyết định sửa lại Hòa ước Quý Mùi (Hòa ước Harmand) đã ký với triều đình Hiệp Hòa vào ngày 23.7.1883.

Ngày 6.6.1884, Hòa ước Giáp Thân (Hòa ước Patenôtre) được ký kết giữa đại diện của Chính phủ Pháp với triều Nguyễn tại Tòa Khâm sứ Trung Kỳ. Đây là một hòa ước rất bất lợi cho triều Nguyễn, bởi lẽ trong hòa ước này có điều khoản cho phép Khâm sứ Trung Kỳ được quyền ra vào tự do yết kiến vua Việt Nam và cho quân Pháp vào đồn trú trong thành Mang Cá ở trong Kinh Thành Huế.

Tất cả những việc trên đều nằm ngoài tầm kiểm soát của vua Kiến Phúc, một phần vì vua đang lâm bệnh, phần khác vì hai vị đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết không cho vị vua trẻ can dự vào. Giữa lúc đó thì vua Kiến Phúc thăng hà (ngày 31.7.1884), kết thúc 8 tháng làm vua bất đắc dĩ.

Về cái chết của vua Kiến Phúc, chính sử nhà Nguyễn chép là vua chết do bạo bệnh. Tuy nhiên, nhiều người nghi ngờ ông đã bị Nguyễn Văn Tường ra tay sát hại bằng cách bỏ thuốc độc vào thang thuốc chữa bệnh cho vua.

Nhà sử học Bửu Kế cho rằng sở dĩ Nguyễn Văn Tường giết vua Kiến Phúc là vì các lý do sau: [1]. Cả Tường và Thuyết thấy “vua Kiến Phúc cùng với những người có thế lực trong hoàng gia thường tư thông với khâm sứ Pháp và làm trở ngại cho công việc của nhóm chủ chiến” (Bửu Kế, Chuyện triều Nguyễn, tr. 128-129). Vì thế, họ giết ông và thay thế bằng một vị vua nhỏ tuổi hơn để dễ việc nắm trọn quyền bính; [2]. Hai vị quyền thần này cho rằng Hòa ước Giáp Thân, được ký kết nhân danh vua Kiến Phúc, có quá nhiều bất lợi cho triều Nguyễn và nhất là cho phái chủ chiến. Nếu vua Kiến Phúc không còn nữa thì hòa ước này sẽ mất hết hiệu lực; [3]. Vì Nguyễn Văn Tường tự tiện vào cung cấm lúc ban đêm (có người cho là để tư tình), bị vua Kiến Phúc phát hiện và la quở. Vì thế Nguyễn Văn Tường phải giết vua để bịt đầu mối.

Sau khi vua Kiến Phúc qua đời, triều thần lập Nguyễn Phúc Ưng Lịch, em trai vua Kiến Phúc, lên làm vua, lấy niên hiện là Hàm Nghi, kết thúc thời kỳ “tứ nguyệt tam vương”. (còn tiếp).

(Trích từ sách Huế – triều Nguyễn một cái nhìn của nhà nghiên cứu Trần Đức Anh Sơn,
do NXB Thế Giới ấn hành)

Nguồn: https://thanhnien.vn/trieu-nguyen-mot-goc-nhin-khac-8-thang-bi-lam-vua-cua-nguyen-phuc-ung-dang-185260321222119329.htm

ThanhNien Logo

Hello Mình là Cải

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Mới nhất
Cũ nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Tin Nóng Hôm Nay