Thứ hai, Tháng ba 30, 2026
HomeThời SựBàn thêm về “học lệch” ở phổ thông: Nỗi lo nhân lực...

Bàn thêm về “học lệch” ở phổ thông: Nỗi lo nhân lực khoa học công nghệ

Hiện tượng học sinh chọn các môn khoa học xã hội (KHXH) nhiều hơn khoa học tự nhiên (KHTN) ở phổ thông không còn là nhận định cảm tính nữa mà đã thành xu hướng. Năm 2024, trong hơn 1,07 triệu thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT, có 63% chọn bài thi KHXH, còn KHTN chỉ 37%. Đến năm 2025, ở cơ chế thi mới, cán cân ấy vẫn nghiêng rõ về phía các môn xã hội: Lịch sử có 499.357 thí sinh lựa chọn, Địa lí 494.081, trong khi Vật lí là 354.298, Hóa học 246.700 và Sinh học chỉ 72.669. Nghĩa là các môn Lý, Hóa, Sinh cũng đang “lép vế” rõ rệt trong lựa chọn của học sinh.

Đằng sau xu hướng ấy có nhiều nguyên nhân, chúng ta không đơn giản quy về một lý do cụ thể nào đó. Tuy nhiên, cần thấy rằng lựa chọn của cá nhân học sinh phần nào phản ánh cách hệ thống thi cử, xét tuyển và tổ chức dạy học đang định hướng hành vi người học. Khi thi cử và xét tuyển khiến học sinh cảm thấy chọn KHXH dễ đạt điểm hơn, ít rủi ro hơn, còn chọn KHTN vất vả hơn nhưng lợi thế lại không rõ ràng, thì số đông sẽ đi theo lối an toàn. Nói cách khác, học sinh đang chọn theo xác suất an toàn của điểm số nhiều hơn là theo nhu cầu nhân lực dài hạn của đất nước.

Bàn thêm về “học lệch” ở phổ thông: Nỗi lo nhân lực khoa học công nghệ - 1

Học sinh tại TPHCM đang ôn lại kiến thức trước khi bước vào kỳ thi thử tốt nghiệp THPT năm 2025 (Ảnh: Thúy Hường).

Cách dạy và cách học KHTN ở nhà trường thì sao? Nhiều năm nay, việc dạy các môn này vẫn còn nặng công thức, nặng giải bài tập, nặng tái hiện kiến thức, trong khi thiếu thí nghiệm, thiếu trải nghiệm, thiếu liên hệ với đời sống và thế giới nghề nghiệp. Nói cách khác là việc dạy học lâu nay chưa làm cho các môn này trở nên gần gũi, hấp dẫn và có ý nghĩa với học sinh. Các em quay lưng khi môn học trở thành gánh nặng kỹ thuật thi cử, khô, khó và xa lạ.

Khi đó, Vật lí không còn là cách hiểu thế giới vật chất, Hóa học không còn là khoa học của vật chất và biến đổi, Sinh học không còn là chìa khóa của y sinh, môi trường hay nông nghiệp hiện đại, mà chỉ còn là những chương phải học để làm bài. Một giáo viên có hơn 20 năm dạy Hóa học ở Hà Nội cho biết, học sinh ngại KHTN không hẳn vì thiếu năng lực, mà vì nỗi sợ đã hình thành từ bậc THCS. Khi môn học chưa đủ hấp dẫn, chưa khơi được trí tò mò, trong khi điểm số lại không như mong đợi, dạy tích hợp chưa đến nơi đến chốn các em dễ mặc định đó là những môn khó, khô cứng và không hợp với mình. Lên đến THPT, nỗi sợ ấy gặp thêm áp lực thi cử, lựa chọn môn học và lựa chọn tổ hợp xét tuyển, nên xu hướng né KHTN càng rõ hơn.

Hệ quả tai hại không chỉ là mất cân đối lựa chọn môn học, mà còn là hụt đầu vào cho các ngành kỹ thuật, công nghệ, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), y sinh, năng lượng, môi trường và cả đội ngũ giáo viên khoa học trong tương lai. Nguy hơn, nó làm yếu đi tư duy định lượng, tư duy thực chứng và năng lực giải quyết vấn đề dựa trên bằng chứng ngoài đời. Bởi KHTN không chỉ để đào tạo nhà khoa học, mà còn rèn năng lực suy luận, kiểm chứng, mô hình hóa và tư duy hệ thống cho một nền kinh tế đổi mới sáng tạo.

Bài học từ các nước trong Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) hay gần chúng ta là Singapore đều gặp nhau ở một điểm: học sinh sẽ không chọn KHTN nếu nhà trường chỉ bắt các em học khó hơn, thi nặng hơn, mà các em chọn Toán, Lý, Hóa, Sinh nếu các môn này gắn với chương trình học tập ứng dụng để giúp học sinh thấy ý nghĩa và triển vọng của con đường mình chọn. Muốn giữ nền tảng khoa học cho quốc gia, giáo dục phải làm cho KHTN bớt khô cứng, bớt rủi ro điểm số, gần đời sống hơn và gắn rõ hơn với cơ hội học tập, nghề nghiệp trong tương lai.

Từ đó, Việt Nam cần thay đổi ở cả ngắn hạn lẫn dài hạn. Trong ngắn hạn, phải rà soát ngay đề thi, ma trận đánh giá và cách xét tuyển đại học. Đề KHTN phải bớt đánh đố, bớt nặng mẹo kỹ thuật, tăng câu hỏi gắn với hiện tượng thực tiễn, tư duy khoa học và năng lực vận dụng. Xét tuyển đại học cũng phải phát tín hiệu rõ hơn với các ngành kỹ thuật, công nghệ, y sinh, nông nghiệp công nghệ cao, môi trường: học sinh có “nền” Lý, Hóa, Sinh tốt phải được nhìn thấy lợi thế công bằng và ổn định mà không cần phải quá chú trọng vào chứng chỉ quốc tế. Nếu xét tuyển đại học bị chi phối bởi sức ép tuyển sinh và lợi ích cục bộ tăng nguồn tuyển trước mắt, sẽ rất dễ nảy sinh những tổ hợp xét tuyển thiếu cơ sở khoa học, làm lệch tín hiệu lựa chọn môn học của học sinh. Hệ quả cuối cùng không chỉ là bất lợi cho thí sinh, mà là tổn hại đến chất lượng nguồn nhân lực của cả nền kinh tế. Đồng thời, cần tăng cường hướng nghiệp từ THCS để học sinh hiểu học KHTN dẫn tới những nghề gì, chứ không chỉ thấy đó là con đường nhiều áp lực.

Về dài hạn, phải thiết kế lại việc dạy KHTN trong nhà trường: chương trình tinh gọn nhưng sâu hơn, cách dạy tăng thí nghiệm, dự án và giải quyết vấn đề, đánh giá chuyển từ ghi nhớ sang năng lực lập luận và thực hành khoa học. Cùng với đó là đầu tư bài bản cho phòng thí nghiệm, học liệu, giáo viên và chính sách khuyến khích người học theo đuổi STEM. Trong nền tảng ấy, Toán giữ vị trí bản lề đối với toàn bộ các môn khoa học tự nhiên. Nhà triết học Roger Bacon từng viết từ thế kỷ XIII rằng toán học là cánh cửa, đồng thời là chiếc chìa khóa mở vào các ngành khoa học. Tinh thần của nhận định ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị: xem nhẹ toán học cũng là làm suy yếu nền tảng để hiểu các khoa học khác và hiểu thế giới bằng lý trí.

Nói cho cùng, xu hướng học sinh nghiêng về KHXH nhiều hơn KHTN không chỉ phản ánh lựa chọn cá nhân, mà còn cho thấy tác động tổng hợp của cách dạy học trong nhà trường, cách ra đề và đánh giá, chính sách thi cử – xét tuyển, công tác hướng nghiệp và cả những tín hiệu xã hội về cơ hội học tập, việc làm. Nếu không kịp thời điều chỉnh, hệ quả không chỉ là mất cân đối lựa chọn môn học ở phổ thông, mà còn làm yếu nền tảng khoa học của nguồn nhân lực tương lai. Muốn có nhân lực chất lượng cao cho khoa học – công nghệ, không thể để phổ thông tiếp tục học lệch theo lối an toàn điểm số, càng không thể vì sự thuận tiện trong thi cử, xét tuyển và những lợi ích cục bộ trước mắt.

Tác giả: TS Hoàng Ngọc Vinh từng giữ chức Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo; tham gia Tổ Tư vấn của Uỷ ban Quốc gia Đổi mới Giáo dục Đào tạo, nhiệm kỳ 2016-2021.

Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!

Nguồn: https://dantri.com.vn/tam-diem/ban-them-ve-hoc-lech-o-pho-thong-noi-lo-nhan-luc-khoa-hoc-cong-nghe-20260327144418920.htm

DanTri Logo

Hello Mình là Cải

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Mới nhất
Cũ nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Tin Nóng Hôm Nay