Ngày 2/9/1945 lịch sử, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trong thời khắc thiêng liêng ấy, tại Sài Gòn, không khí cũng sục sôi và xúc động khi hàng vạn người dân Nam Bộ đã đổ về Quảng trường Norodom (nay là khu vực gần Nhà thờ Đức Bà) để lắng nghe Bản Tuyên ngôn Độc lập của Bác Hồ từ Thủ đô.
Quang cảnh lễ Độc lập đầu tiên tại Sài Gòn (Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia).
Đứng trên Lễ đài Độc lập tại Quảng trường Norodom, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Bộ trưởng Bộ Y tế đã thay mặt Chính phủ lâm thời tuyên thệ trước toàn thể nhân dân miền Nam “cương quyết lãnh đạo đồng bào giữ nước, vượt khó khăn nguy hiểm, xây đắp độc lập hoàn toàn cho Việt Nam”.
Bộ trưởng Bộ Y tế đầu tiên của Việt Nam
Theo cuốn Trí thức tinh hoa Việt Nam đương đại của nhà báo nổi tiếng Hàm Châu (1935-2016), chàng thanh niên Phạm Ngọc Thạch theo học tại Trường Đại học Y Đông Dương (nay là trường Đại học Y Hà Nội) năm 1928.
4 năm sau, anh sang Pháp du học và thi đỗ bác sĩ y khoa năm 1934. Tại đây, bác sĩ Thạch được bổ nhiệm làm giám đốc bệnh viện lao ở một vùng núi phía đông nước Pháp với mức lương hậu hĩnh.
Cuối năm 1936, vị trí thức trẻ trở về nước và mở phòng khám tư tại Sài Gòn. Với chuyên môn vững vàng cùng uy tín được gây dựng trong thời gian tu nghiệp ở Pháp, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch nhanh chóng trở thành một trong những thầy thuốc nổi tiếng nhất thời đó.
Chỉ riêng khoản thù lao do một triệu phú người Hoa chi trả cho bác sĩ Thạch với tư cách bác sĩ gia đình đã lên tới 2.000 đồng Đông Dương, thời điểm đó, 1 tạ gạo chỉ có giá 2 đồng.
Ông được đánh giá là một chuyên gia xuất sắc trong ngành lao, đồng thời là hội viên duy nhất trong toàn cõi Đông Dương của Hội Nghiên cứu lao ở nước Pháp.
Phòng khám tư của ông không chỉ thực hiện chức năng chuyên môn thuần túy, mà còn mang đậm tinh thần nhân đạo của một người thầy thuốc.
Tại đây, bác sĩ Thạch sẵn sàng thăm khám và điều trị miễn phí cho người lao động nghèo, những phận đời mưu sinh giữa đô thị thuộc địa còn nhiều thiếu thốn, khắc nghiệt.
Đặc biệt, cơ sở y tế nhỏ ấy cũng trở thành một địa điểm lui tới, nghỉ ngơi an toàn của các chiến sĩ cách mạng.
Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (thứ hai từ phải sang) tại chiến khu trong kháng chiến chống Pháp (Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia).
Tháng 3/1945, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Ngay sau đó, Xứ ủy Nam Kỳ giao cho ông trọng trách tổ chức, tập hợp lực lượng thanh niên làm chỗ dựa cho phong trào đấu tranh cách mạng tại Nam Bộ.
Từ nhiệm vụ này, tổ chức Thanh niên Tiền phong Nam Bộ được thành lập, do một Đảng đoàn phụ trách gồm ba đồng chí, trong đó bác sĩ Phạm Ngọc Thạch giữ cương vị Bí thư.
Theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, chấp hành mệnh lệnh khởi nghĩa của Ủy ban Kháng chiến toàn quốc và kế hoạch của Xứ ủy Nam Kỳ, ngay từ đêm 24/8/1945, quần chúng cách mạng ở Sài Gòn – Chợ Lớn và các tỉnh lân cận mang theo giáo mác, tầm vông… bằng mọi phương tiện, rầm rập kéo về nội thành tham gia khởi nghĩa giành chính quyền.
Giữa thời khắc ấy, nhiều người không khỏi bất ngờ khi thấy lá cờ búa liềm quang vinh được treo ngay trên nóc phòng mạch tư của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch.
Sáng hôm sau, thành phố Sài Gòn rợp sắc cờ đỏ sao vàng và cờ búa liềm, đánh dấu thời khắc chính quyền về tay nhân dân. Không khí chuyển mình của một đô thị thuộc địa cũ sang kỷ nguyên mới diễn ra trong sự đồng lòng và quyết tâm của quần chúng.
Ngày 27/8 cùng năm, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân tộc giải phóng do Quốc dân Đại hội ở Tân Trào cử ra được cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Bác Hồ cử bác sĩ Phạm Ngọc Thạch giữ chức Bộ trưởng Bộ Y tế, trở thành vị Bộ trưởng Y tế đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đồng thời, ông còn là Ủy viên Ủy ban Nhân dân Nam Bộ phụ trách công tác đối ngoại, tham gia phái đoàn Chính phủ Việt Nam trong các cuộc đàm phán với đại diện Chính phủ Pháp.
Giáo sư Hồ Đắc Di, Giáo sư Tôn Thất Tùng và Bộ trưởng Y tế Phạm Ngọc Thạch (người ngồi) sau ngày Hà Nội giải phóng (Ảnh: Tư liệu).
Trong bối cảnh chính quyền cách mạng còn non trẻ, bộ máy nhà nước phải nhanh chóng được hoàn thiện để đối phó với thù trong, giặc ngoài, gánh vác cương vị Bộ trưởng Bộ Y tế khi ấy không chỉ đơn thuần là một bác sĩ giỏi chuyên môn mà cần một nhà trí thức có uy tín, được nhân dân tin tưởng.
5 nguyên tắc đặt nền móng cho y tế Việt Nam
Sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Hiệp định Geneve năm 1954 lập lại hòa bình ở miền Bắc, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch được giao trọng trách làm Thứ trưởng Bộ Y tế, năm 1958 làm Bộ trưởng Bộ Y tế, Bí thư đảng đoàn Bộ y tế cho đến ngày ông hy sinh.
Ban đầu, Thứ trưởng Phạm Ngọc Thạch đảm nhiệm công việc trong điều kiện đặc biệt khó khăn, chế độ cũ đã để lại nhiều hậu quả to lớn về sức khỏe và bệnh tật trong nhân dân, số người mắc và chết vì bệnh dịch, bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ cao.
Trước thực trạng bệnh tật chồng chất và hệ thống y tế còn nhiều thiếu hụt, câu hỏi làm thế nào để giải quyết những vấn đề sức khỏe trở thành nỗi trăn trở thường trực của vị lãnh đạo Bộ Y tế.
Ông dành nhiều thời gian nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức hệ thống y tế của Liên Xô (cũ) và quan điểm của Đảng, tư tưởng của Hồ Chí Minh về công tác bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Bệnh viện Việt – Đức, hỏi chuyện bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (người cắt tóc cao, ngồi bên trái) (Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia).
Bằng cách đi thực địa tại nhiều vùng, nhiều địa phương để khảo sát điều kiện sống và khả năng đáp ứng của cơ sở y tế, ông đã đúc kết thành năm phương châm, nguyên tắc chỉ đạo của ngành mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Một là, y tế phục vụ sản xuất, phục vụ nhân dân. Hai là, phòng bệnh là chính. Ba là, chữa bệnh là quan trọng. Bốn là, kết hợp đông y với tây y. Năm là, đi đúng đường lối quần chúng.
Từ các phương châm, nguyên tắc đã xác lập, ông ưu tiên hàng đầu là xây dựng mạng lưới y tế cơ sở tại nông thôn, nơi gần dân nhất, từ đó các chủ trương về phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe cộng đồng có thể đi vào thực chất.
Cán bộ y tế xã chưa có chế độ sinh hoạt phí ổn định như hiện nay, nguồn hỗ trợ chủ yếu do hợp tác xã đài thọ, phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp (khi được mùa thì có, khi mất mùa thì không).
Trong công tác vệ sinh phòng bệnh, song song việc đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục, ông chủ trương phát động nhân dân tham gia các phong trào vệ sinh yêu nước, ba sạch, bốn tốt, sạch làng, tốt ruộng…
Năm 1959, Hà Nội ghi nhận đợt bùng phát dịch bại liệt ở trẻ em, gây tâm lý lo lắng trong cộng đồng. Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch đã quyết định triển khai sử dụng vaccine Sabin do Liên Xô (cũ) sản xuất để tổ chức tiêm phòng cho trẻ em.
Nhờ vậy, tỷ lệ mắc bại liệt giảm xuống còn 3,09/100 nghìn dân từ năm 1961, mà trước đó có tỷ lệ mắc hơn 120/100 nghìn dân tại các vụ dịch bại liệt lớn.
Lãnh đạo ngành y không rời phòng bệnh
Dù là người đứng đầu ngành y tế, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch vẫn duy trì hoạt động chuyên môn với tư cách một thầy thuốc chuyên khoa lao.
Hằng ngày, ông trực tiếp thăm khám người bệnh lao, tự mình đọc phim X-quang, có mặt bên giường bệnh của những ca nặng để theo dõi sát diễn biến lâm sàng, đưa ra chỉ định điều trị và kịp thời điều chỉnh phác đồ khi cần thiết.
Vaccine BCG chết là một công trình nghiên cứu có tính sáng tạo của tập thể thầy thuốc chống lao tại Việt Nam, do bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đứng đầu.
Không đòi hỏi hệ thống bảo quản lạnh phức tạp, dễ lưu trữ trong thời gian dài, BCG chết nhanh chóng có mặt khắp hang cùng ngõ hẻm, miền ngược, miền xuôi khắp đất nước.
Hàng chục triệu lượt người đã được tiêm phòng lao bằng loại vaccine này, góp phần làm giảm rõ rệt tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng.
Theo số liệu, hơn 60 viện nghiên cứu thuộc 40 quốc gia đã gửi thư hỏi bác sĩ Phạm Ngọc Thạch tài liệu về BCG chết.
Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch bên cây đa Tân Trào (Ảnh: Trang tin điện tử Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh).
“Đối với các nước đang phát triển, phương pháp phòng và chống lao của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch là một trong những giải pháp phù hợp và hiệu quả”, Tạp chí Tubercle của Hội Nghiên cứu về bệnh phổi và bệnh lao tại Vương quốc Anh từng nhận định.
Đồng thời, ông mở rộng nghiên cứu sang nhiều bệnh lý hô hấp còn ít được đề cập ở Việt Nam thời điểm đó, như nấm phổi, ký sinh trùng phổi, giãn phế quản khô chảy máu, nhiễm bụi than, bụi silic…
Cả một chương bệnh lý mới về các bệnh đường thở người Việt Nam được mở ra với các công trình tiên phong của ông.
Bác sĩ Thạch là một trong những người tiên phong nghiên cứu ứng dụng kích sinh chất Filatov, tiêm vào các huyệt vị kinh lạc trong điều trị lao phổi, kết hợp với thuốc kháng sinh theo phác đồ chuyên khoa.
Theo ghi nhận, hàng chục vạn người bệnh đã được điều trị khỏi nhờ sự phối hợp phương pháp nói trên cùng các tiến bộ trong quản lý bệnh lao.
Những kết quả đạt được cho thấy đội ngũ thầy thuốc Việt Nam đã từng bước “giải bài toán” nan giải trong công cuộc chống lao: làm thế nào để điều trị hiệu quả, chi phí hợp lý và triển khai được trên diện rộng trong điều kiện nguồn lực hạn chế.
Được sự chỉ đạo sâu sát của vị Bộ trưởng gần dân, ngành y tế nước ta lúc bấy giờ đã đạt những thành quả vượt bậc, ông Francois Remy – một chuyên gia của Tổ chức Y tế thế giới từng đánh giá: “Việt Nam thuộc nhóm 25 nước ‘bất hạnh’ nhất, nhưng lại có một nền y tế gần bằng các nước Trung Âu, và đạt tới trình độ nền y tế nước Pháp 10-15 năm trước”.
Bộ trưởng Bộ Y tế, giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch sinh ngày 7/5/1909 tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (cũ). Ông mất ngày 7/11/1968 khi đang công tác tại chiến trường miền Nam (Tây Ninh).
Theo Bảo tàng Hồ Chí Minh, tình cảm Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho người thầy thuốc của nhân dân Phạm Ngọc Thạch vô cùng sâu sắc.
“Khi nghe báo tin anh mất, Bác đánh rơi điếu thuốc đang kẹp trong tay. Bác ngồi lặng khá lâu, hai tay gầy ôm vầng trán rộng…”, trích trong Anh Tư Thạch: Truyện anh hùng Phạm Ngọc Thạch, Nxb Y học (Hà Nội năm 1981).
Trong suốt sự nghiệp, ông được trao tặng nhiều phần thưởng và danh hiệu cao quý:
– Danh hiệu Anh hùng Lao động (1958)
– Huân chương Lao động hạng Nhất (1958)
– Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học, công nghệ (1996)
Nguồn: https://dantri.com.vn/suc-khoe/bac-si-dau-tien-giu-chuc-bo-truong-y-te-hon-30-nam-tu-kham-benh-chong-lao-20260302215126508.htm

