Cái đơn đó sau được UBND xã đóng dấu đỏ chót, cho phép ba tôi mang 2 kg cua nhà bắt được từ Bến Tre lên Đồng Nai để biếu một người bà con. Ba tôi giải thích: Nếu không có sự xác nhận của chính quyền địa phương, số cua ba mang đi dọc đường trên xe khách hoàn toàn có thể bị xét, bị phát hiện và bị tịch thu.
Hè năm đó, tôi theo ba lên Đồng Nai để phụ các việc rẫy bái trong một hành trình dài 2 ngày cho chặng đường 250 km, vừa đi đò, đi xích lô, đi xe đò và… đi bộ. Trên chuyến xe đò năm đó, tôi được mấy dì người thì dúi cho túi cá khô nhỏ, người thì nhờ xách một bịch dừa… Thấy tôi ngơ ngác, mẹ tôi bảo nhỏ: Con mang giùm người ta, con nít đem theo ăn chắc không ai bắt, chứ họ mang nhiều có khi bị cho là đem buôn bán, bị tịch thu đó! Tôi không biết có ai mang theo để bán lại không hay chỉ mang để dành ăn trong nhà hoặc biếu bà con như ba tôi làm trước đó nhưng lòng cứ thắc mắc mãi.

Sau mấy tháng hè, tôi theo mẹ về quê. Trên chuyến xe đò khách chen chúc, tôi dù bị say xe vẫn nhớ cảnh một số người mang ít ký đậu nành, bắp trắng hay khúc thuốc rê bị giữ lại… Có người khóc thút thít, nói: mang chút đồ về nhà ăn thôi chứ bán chác gì mà cũng bị bắt? Mãi sau này đọc các bài báo, các tài liệu tôi mới hiểu vì sao có chuyện đó. Ôi, cái thời ngăn sông cấm chợ khắt khe như thế, ảnh hưởng đến cuộc sống của biết bao người. Ở nơi khác, lúc khác, còn có nhiều chuyện đau lòng hơn, mà bây giờ kể lại nếu không từng chứng kiến, không hiểu bối cảnh đó sẽ không thể tin là sự thật!
2. Những năm đầu thập niên 1980, đặc biệt là trước Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12-1986), là khoảng thời gian đầy trăn trở, lo âu của cả dân tộc Việt Nam. Đó là đêm dài của khủng hoảng kinh tế – xã hội kéo dài từ cuối những năm 1970, khi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp lộ rõ những bất cập nghiêm trọng. Sau ngày thống nhất đất nước (30-4-1975), chúng ta đã nỗ lực xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn quốc, đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng những sai lầm chủ quan, duy ý chí, cùng với hậu quả chiến tranh và cấm vận quốc tế, đã đẩy đất nước vào tình trạng trì trệ, suy thoái.
Ngay tại các đô thị lớn vào những năm 1985-1986, nhiều con phố tối om vì thiếu điện, hàng dài người xếp hàng trước cửa hàng mậu dịch quốc doanh để nhận tem phiếu mua gạo, thịt, vải vóc… Mỗi người chỉ được vài lạng thịt/tháng, vài mét vải/năm; việc mua được xà bông, bột ngọt, những thứ thiết yếu trong đời sống, cũng rất khó khăn. Ở nông thôn, hợp tác xã hay tập đoàn nông nghiệp với cơ chế “dong công phóng điểm” khiến nông dân mất động lực sản xuất. Nhiều gia đình phải ăn độn bo bo, khoai mì, khoai lang, củ chuối qua ngày. Lạm phát phi mã lên đến 774,7% năm 1986, tiền mất giá chóng mặt sau cuộc đổi tiền năm 1985 thất bại. Người dân gọi đó là “thời bao cấp”, thời mà mọi thứ đều thiếu thốn, từ lương thực đến hàng tiêu dùng.

Ở nông thôn, tuy làm ra lúa gạo, tôm cá nhưng gần như để ăn, việc bán chác rất khó khăn. Quê tôi ven biển, nhiều người đóng đáy, đi rập được những con cua kình hoặc cua gạch cái xề hơn nửa ký nhưng chỉ để nhà ăn, chứ bán rẻ như cho, bởi chỉ bán quanh quẩn cho người trong vùng. Mẹ tôi mua khoai mì về ăn độn, tôi chỉ bỏ lớp vỏ đen bên ngoài mà không dám lột vỏ lụa, vì vỏ đó vẫn ăn được! Còn ở thành thị, sau này đọc các tài liệu tôi mới ngỡ ngàng về sự sáng tạo: nhiều gia đình cải tạo ban công, nhà vệ sinh vốn chật chội để nuôi heo, nuôi chim cút, nuôi gà…, nhằm cải thiện đời sống. Công nhân viên chức lương tháng không đủ sống, phải làm thêm nghề tay trái như đan lát, sửa xe đạp, may vá…
Ở các cửa hàng mậu dịch, không nói đến chất lượng hàng hóa chưa cao do điều kiện sản xuất thời bấy giờ, cách thức buôn bán và thái độ phục vụ rất kém. Những người bán hàng thường xuyên mặt cau mày có, không chỉ dòng người xếp hàng chờ mua rất đông mà còn vì sự bất cần nữa! Tôi nhớ mãi hình ảnh cái lon đong dầu hôi (quê tôi gọi là “dầu trắng”, dùng để thắp đèn; có nơi dùng để đốt bếp lò xô; để phân biệt với “dầu đỏ” (tức dầu diesel) bị bóp méo để giảm dung tích, còn dầu trắng luôn bị trộn thêm dầu đỏ do dầu đỏ giá rẻ hơn. Chính vì vậy, đèn dầu thắp khói nhiều và tim (bấc) mau lụn!
Do giá ở thị trường chính thức và “chợ đen” khác biệt lớn nên tình trạng buôn lậu diễn ra khắp nơi dù lực lượng quản lý thị trường tả xung hữu đột. Trong tiểu thuyết “Tiếng rừng” của nhà văn Lê Hữu Thuấn, có một chi tiết khiến người đọc khó quên: tay tài xế xe tải dọc đường gặp một cô gái vẫy đi nhờ xe; trên đường đi thấy cô vui vẻ, cởi mở nên anh ta mới ỡm ờ, tay vờ như vô tình đặt lên đùi cô gái ngồi bên, nhưng giật mình vì sau lớp vải không phải là da thịt mà là cái gì đó thô cứng… Bị lộ, cô gái mới thú thật là mình đi buôn lậu cà phê, trên người cô có nhiều chỗ được bọc một túi vải chứa hạt cà phê… Vậy nên trong số những người đi trên các chuyến xe đò tôi kể ở trên biết đâu cũng có người buôn lậu!
3.Bối cảnh đất nước trong “đêm trước đổi mới” đó không phải chỉ trong ký ức của người từng sống qua giai đoạn ấy mà còn được nêu rõ ở các văn kiện của Đảng. Trong báo cáo chính trị được Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày tại Đại hội VI của Đảng vào cuối năm 1986, có nhiều đoạn thể hiện rõ ràng tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, như “trong mười năm qua, đã phạm nhiều sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế”; “đó là những sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế và trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, là tác hại của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp tồn tại nhiều năm trong quản lý kinh tế, dẫn tới sản xuất chậm phát triển, mâu thuẫn giữa cung và cầu ngày càng gay gắt”; “sai lầm trong lĩnh vực phân phối, lưu thông là sai lầm rất nghiêm trọng trong lãnh đạo và quản lý kinh tế 5 năm qua”; “những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”; “khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan”…
Đọc lại các nhận định đó mới thấy sự dũng cảm của Đảng ta, của các vị lãnh đạo của Đảng vào thời điểm đó. Như Tổng Bí thư Trường Chinh đã khẳng định: “Thái độ của Đảng ta trong việc đánh giá tình hình là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, chính từ sự nhìn nhận cụ thể thực trạng và các hạn chế, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới sáng suốt.
Những câu chuyện đời thường ở trên phản ánh rõ nét khủng hoảng sâu sắc: sản xuất đình trệ, trình độ sản xuất nói chung kém, năng suất thấp, nhập siêu lớn, viện trợ từ Liên Xô và Đông Âu giảm sút… Dân chúng đói nghèo, bất mãn lan rộng, nhưng vẫn tin tưởng vào Đảng, hy vọng một sự thay đổi. Trước Đại hội VI, Tổng Bí thư Trường Chinh cùng các lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước đã đích thân xuống cơ sở khảo sát, lắng nghe nông dân, công nhân, trí thức. Những “xé rào”, “bung ra” tự phát ở một số địa phương như khoán hộ ở Vĩnh Phú, Hải Phòng hay buôn bán tự do ở miền Nam đã báo hiệu nhu cầu cấp bách phải đổi mới.
Đại hội VI (từ ngày 15 đến 18-12-1986) chính là bình minh sau đêm dài ấy. Đại hội thừa nhận sai lầm, quyết định đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Từ cơ chế bao cấp chuyển sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Đó là bước ngoặt lịch sử, mở ra công cuộc Đổi mới, từ 40 năm trước.
Nguồn: https://nld.com.vn/binh-minh-sau-dem-dai-bao-cap-196260210101246744.htm

