Bộ Công Thương đang lấy ý kiến góp ý cho hồ sơ dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số điều của Nghị định kinh doanh xăng dầu. Tại dự thảo, Bộ Công Thương đề xuất xem xét bình ổn giá khi giá bán lẻ xăng dầu trong nước biến động bất thường, tăng liên tiếp trong một tháng từ 20% trở lên.
Hiện nay, thị trường xăng dầu đang có nhiều biến động do ảnh hưởng từ cuộc xung đột ở Trung Đông. Giá xăng dầu trong nước đang tăng rất mạnh, ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp.
Trong bối cảnh đó, vấn đề bình ổn giá xăng dầu được nhiều người quan tâm. PLO xin giới thiệu bài viết của PGS.TS Ngô Trí Long – chuyên gia kinh tế, tài chính góp ý về vấn đề này.
Thu hẹp diện bình ổn là đúng, nhưng không nên để trống vùng rủi ro
Dự thảo Thông tư hướng dẫn một số điều của Nghị định kinh doanh xăng dầu cho thấy nỗ lực tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý điều hành thị trường. Tuy nhiên, nếu cơ chế bình ổn chỉ kích hoạt khi giá tăng quá mạnh, phạm vi bình ổn bị thu hẹp nhưng thiếu cơ chế giám sát rủi ro thay thế, còn giá theo dõi chủ yếu dựa trên giá công bố của doanh nghiệp đầu mối, thì công cụ điều hành có nguy cơ chậm nhịp trước biến động thực tế.
Vấn đề không chỉ là sửa một thông tư, mà là hoàn thiện tư duy quản lý để thị trường vận hành minh bạch hơn, linh hoạt hơn và sát thực tế hơn.
Việc dự thảo chỉ tập trung bình ổn đối với xăng, xăng sinh học và dầu diesel, xét về nguyên tắc, là hợp lý. Đây là những mặt hàng có tác động lan tỏa mạnh nhất tới vận tải, lưu thông hàng hóa, chi phí sản xuất và đời sống dân sinh.
Nếu mục tiêu của bình ổn là giảm áp lực lên CPI và hạn chế hiệu ứng dây chuyền sang mặt bằng giá cả, thì việc ưu tiên ba nhóm hàng này là có cơ sở. Cách tiếp cận đó cũng phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Nhà nước không nên dàn đều công cụ can thiệp cho mọi chủng loại nhiên liệu, mà cần tập trung vào những mặt hàng có ảnh hưởng lớn nhất tới nền kinh tế.

Tuy nhiên, điểm cần bàn là dự thảo không còn đề cập dầu mazut như trước. Dù không còn phổ biến trong tiêu dùng đại trà, mazut vẫn là đầu vào của một số ngành công nghiệp, hàng hải và nhu cầu nhiên liệu chuyên biệt. Nếu giá mặt hàng này biến động mạnh, chi phí của một số lĩnh vực vẫn có thể tăng đáng kể, rồi tác động sang giá thành sản phẩm, dịch vụ.
Không nhất thiết phải đưa mazut trở lại diện bình ổn đại trà, nhưng cũng không nên coi đây là phần “đứng ngoài” hoàn toàn. Hợp lý hơn là giữ mazut trong diện giám sát rủi ro, để khi thị trường xuất hiện cú sốc bất thường, cơ quan quản lý vẫn có căn cứ pháp lý và công cụ cần thiết để xử lý. Nói cách khác, thu hẹp diện bình ổn là đúng, nhưng thu hẹp không đồng nghĩa với bỏ trống quản lý.
Ngưỡng tăng 20% trong một tháng là quá cao, dễ làm chậm phản ứng chính sách
Điểm đáng băn khoăn hơn là đề xuất chỉ xem xét bình ổn khi giá bán lẻ xăng dầu tăng từ 20% trở lên trong một tháng. Trên lý thuyết, đây là một ngưỡng rõ ràng, dễ áp dụng. Nhưng trong thực tiễn điều hành, đây lại là ngưỡng khá cao và mang tính phản ứng muộn.
Xăng dầu là mặt hàng rất nhạy cảm. Giá tăng không chỉ tác động trực tiếp đến chi phí đi lại, vận tải hay sản xuất, mà còn ảnh hưởng rất nhanh đến tâm lý thị trường. Doanh nghiệp vận tải không đợi giá tăng đủ 20% mới điều chỉnh cước. Doanh nghiệp sản xuất cũng không chờ đủ một tháng mới tính lại chi phí đầu vào. Chỉ cần giá tăng liên tiếp qua vài kỳ điều hành, kỳ vọng lạm phát đã bắt đầu hình thành.
Khi kỳ vọng tăng giá lan rộng, thị trường thường tự điều chỉnh trước cả khi cơ quan quản lý ra tay. Lúc đó, công cụ bình ổn sẽ mất đi ý nghĩa “giảm sốc”, mà chỉ còn vai trò xử lý khi tác động đã lan ra diện rộng. Điều hành xăng dầu vì thế không thể chỉ dựa vào một ngưỡng cứng. Mức tăng giá là quan trọng, nhưng không phải là yếu tố duy nhất.

Tốc độ tăng, tần suất tăng, bối cảnh địa chính trị, biến động tỷ giá, chi phí logistics và nguy cơ đứt gãy nguồn cung đều phải được tính đến. Hợp lý hơn là xây dựng cơ chế cảnh báo nhiều cấp độ. Khi giá tăng ở mức thấp nhưng kéo dài, cần tăng giám sát và rà soát chi phí, nguồn cung. Khi biến động lớn hơn, có thể tính đến công cụ thuế, phí, nguồn dự trữ hoặc quỹ bình ổn. Chỉ khi xuất hiện cú sốc thật sự lớn mới áp dụng biện pháp can thiệp mạnh hơn. Bình ổn giá hiệu quả không nằm ở chỗ chờ đủ ngưỡng mới hành động, mà ở chỗ phát hiện sớm và xử lý đúng thời điểm.
Nếu chờ giá xăng dầu tăng tới 20% trong một tháng mới tính chuyện bình ổn, chính sách có thể đã chậm một nhịp so với thị trường.
Giá công bố của doanh nghiệp đầu mối chưa chắc phản ánh hết giá thực tế
Dự thảo đề xuất lấy giá bán lẻ do thương nhân đầu mối công bố để theo dõi, đánh giá bình ổn; đồng thời căn cứ trên nhóm doanh nghiệp có tính đại diện, chiếm trên 70% tổng sản lượng tiêu thụ toàn quốc.
Xét về mặt quản lý, đây là phương án thực dụng. Cơ quan điều hành cần một bộ số liệu đủ lớn, đủ đại diện và có thể cập nhật thường xuyên. Nhưng thuận tiện cho quản lý chưa chắc đã phản ánh đầy đủ thực tế thị trường.
Thứ nhất, giá công bố không phải lúc nào cũng là giá giao dịch thực tế cuối cùng. Trên thị trường còn có chiết khấu thương mại, hỗ trợ bán hàng, chênh lệch theo khu vực, theo chi phí vận chuyển và điều kiện phân phối. Nếu chỉ dựa vào giá niêm yết của đầu mối, cơ quan quản lý có thể nắm được mặt bằng chung, nhưng chưa chắc đã đo đúng “nhiệt độ thật” của thị trường.
Thứ hai, nhóm doanh nghiệp chiếm trên 70% sản lượng có thể đại diện cho thị trường ở tầm quốc gia, nhưng chưa chắc phản ánh hết khác biệt giữa các vùng. Giá xăng dầu ở đô thị lớn, vùng sâu vùng xa, miền núi hay hải đảo có thể chịu tác động rất khác nhau bởi chi phí logistics, hạ tầng phân phối và mức độ cạnh tranh.
Nếu thiếu dữ liệu vùng miền, cơ chế bình ổn dễ đúng ở bình quân nhưng lại chưa trúng ở những điểm nóng cục bộ.
Thứ ba, về yêu cầu minh bạch, dữ liệu dùng để kích hoạt bình ổn cần có khả năng kiểm chứng độc lập. Nếu quá phụ thuộc vào số liệu công bố của chính doanh nghiệp chịu điều chỉnh, thì độ khách quan của cơ chế giám sát sẽ bị đặt dấu hỏi. Do đó, dữ liệu từ các thương nhân đầu mối lớn vẫn có thể được dùng làm nền tảng, nhưng phải được đối chiếu với hóa đơn điện tử, dữ liệu bán hàng thực tế, kê khai thuế, tồn kho, nhập khẩu và phân phối. Xa hơn, nên hướng tới một chỉ số giá bán lẻ thực tế bình quân gia quyền, thay vì chỉ dựa chủ yếu vào giá công bố.
Điều hành hiện đại không chỉ cần dữ liệu lớn, mà cần dữ liệu đúng, dữ liệu kiểm chứng được và dữ liệu phản ánh sát thực tế giao dịch. Sửa Thông tư về xăng dầu không chỉ là chỉnh vài điều khoản kỹ thuật. Đây là dịp để hoàn thiện tư duy điều hành đối với một thị trường đặc biệt nhạy cảm, nơi mỗi biến động giá đều có thể lan sang sản xuất, vận tải, tiêu dùng và lạm phát.
Dự thảo lần này có điểm tích cực là thu hẹp trọng tâm bình ổn vào những mặt hàng tác động lớn nhất tới nền kinh tế. Nhưng để công cụ này thực sự hiệu quả, cần xem lại ngưỡng tăng 20% trong một tháng, đồng thời hoàn thiện cách xác định giá theo dõi bình ổn theo hướng sát giao dịch thực tế hơn, minh bạch hơn và phản ánh được chênh lệch vùng miền.
Pháp luật chỉ thực sự có giá trị khi đi trước rủi ro, chứ không phải chạy theo biến động. Với xăng dầu, càng không thể đợi thị trường nóng rực rồi mới bàn chuyện bình ổn. Khi đó, cái giá phải trả không chỉ là vài đồng mỗi lít xăng, mà là áp lực lên cả mặt bằng giá và niềm tin thị trường.
Nguồn: https://plo.vn/binh-on-gia-xang-dau-khong-the-doi-tang-20-moi-can-thiep-post898824.html

