
Việt Nam đạt nhiều tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực sản xuất và ô tô với trọng tâm chuyển đổi xanh – Ảnh: H.HẠNH
TS YE XUAN (Trưởng bộ phận phát triển nhân tài tại Vietnam Private Capital Agency):
Từ ứng phó khủng hoảng đến quốc gia dẫn đầu tăng trưởng ASEAN

Trong 5 năm qua, Việt Nam đã nổi lên như nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất ASEAN, một thành tựu đáng chú ý trước những gián đoạn nghiêm trọng do đại dịch COVID-19, tạo nền tảng cho chương trình phát triển đầy tham vọng hơn trong những năm tới, mang lại sự tự tin cho các nhà hoạch định chính sách trong việc theo đuổi các cải cách có tầm nhìn xa hơn trong các kế hoạch tiếp theo.
Về mặt xã hội, thành tựu nổi bật nhất của Việt Nam là thành công trong việc giảm nghèo. Tỉ lệ nghèo đa chiều đã giảm xuống khoảng 0,9 – 1,1% vào cuối năm 2025. Tỉ lệ thất nghiệp duy trì ở mức thấp, dưới 2,3%.
Chuyển đổi số là một trụ cột then chốt khác. Theo Chương trình chuyển đổi số quốc gia, Chính phủ ưu tiên 3 trụ cột chính: chính phủ số (VNeID, thuế điện tử và hóa đơn điện tử), nền kinh tế số (mục tiêu chiếm 30% GDP vào năm 2030), các sáng kiến xã hội số tập trung vào bao trùm và năng lực số. Quy mô nền kinh tế số của Việt Nam đạt khoảng 45 tỉ USD vào năm 2025, dự báo đạt 90 – 200 tỉ USD vào năm 2030.
Đầu tư vào hạ tầng số hiện đại được đẩy nhanh với trọng tâm là trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và sản xuất thông minh. Ngành công nghệ số đã vượt các mục tiêu năm 2025 về doanh thu, xuất khẩu và thương mại điện tử, củng cố vai trò là động lực tăng trưởng chính.
Bên cạnh đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn duy trì ở mức cao. Năm 2025, vốn FDI đăng ký đạt 38,42 tỉ USD, giải ngân đạt đỉnh 27,62 tỉ USD, cho thấy niềm tin bền vững của nhà đầu tư. Việt Nam cũng đã chuyển hướng chiến lược sang FDI chất lượng cao hơn, ưu tiên chuyển giao công nghệ, đổi mới và bền vững, đặc biệt trong lĩnh vực chất bán dẫn, năng lượng tái tạo và điện tử tiên tiến.
Phát triển hạ tầng nhanh chóng đã giúp kết nối các vùng và mở ra cơ hội kinh tế mới. Tuy nhiên, Chính phủ đã nhận thấy vẫn còn những khoảng trống về năng lượng, logistics và giao thông vận tải cần đầu tư công để đảm bảo tăng trưởng dài hạn.

Sau hơn nửa tháng khởi công, dự án khu tái định cư Hàm Ninh (ở đặc khu Phú Quốc, An Giang) đến nay đã được đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng. Dự án chiến lược này là công trình chào mừng Đại hội XIV của Đảng – Ảnh: CHÍ CÔNG
Việt Nam cũng đã triển khai các sáng kiến khí hậu và năng lượng đầy tham vọng, bao gồm mục tiêu đến năm 2030, 50% phương tiện đô thị, 100% xe buýt và taxi nội đô sử dụng điện.
Đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) hướng tới đẩy nhanh việc chuyển đổi từ than sang năng lượng tái tạo, được hỗ trợ bởi nguồn tài chính quốc tế. Thúc đẩy chuyển đổi sang năng lượng sạch và tăng cường khả năng chống chịu với khí hậu là cần thiết để duy trì tăng trưởng bao trùm.
Cải cách quản trị cũng rất quan trọng, với nỗ lực đơn giản hóa thủ tục hành chính, tinh gọn thực thi và tăng cường trách nhiệm giải trình ở cấp địa phương dưới sự giám sát chặt chẽ của trung ương.
Những thành tựu này đặt ra kỳ vọng cao cho 5 năm tiếp theo. Tuy nhiên, vấn đề khí hậu, thiên tai vẫn đặt ra nhiều thách thức với đời sống và kinh tế, đòi hỏi hợp tác quốc tế sâu rộng. Bước vào giai đoạn phát triển tiếp theo, tăng trưởng dài hạn của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào đầu tư liên tục cho nhân lực, nâng cao năng suất, quản trị minh bạch và đẩy nhanh chuyển đổi xanh, đảm bảo rằng sự tiến bộ mang lại lợi ích cho mọi vùng miền và cộng đồng trên toàn quốc.
GS SONU TRIVEDI (ĐH New Delhi, nghiên cứu viên cấp cao Quỹ Ấn Độ, sáng lập kiêm nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam – Ấn Độ):
Dấu ấn về kinh tế, quản trị và đối ngoại

Việt Nam duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững và phát triển hạ tầng tài chính. Đổi mới số và chuyển đổi khoa học công nghệ đã thúc đẩy tăng trưởng theo hướng bền vững.
Là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực, Việt Nam đạt nhiều tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực sản xuất và ô tô với trọng tâm chuyển đổi xanh.
Trong lĩnh vực đối ngoại, Việt Nam phát huy vai trò chủ động trong 5 năm qua. Việt Nam nâng cấp quan hệ đối tác với các nước bạn bè, tận dụng lòng tin chính trị và hợp tác kinh tế.
Giữa bối cảnh bất định toàn cầu, Việt Nam gắn kết ngoại giao với các mục tiêu phát triển và thành công trong việc giảm thuế quan của Mỹ đối với hàng hóa Việt. Sự độc lập về chiến lược và đường lối ngoại giao đa phương của Việt Nam góp phần củng cố vị thế toàn cầu trong các vấn đề quốc tế.
Tất cả những điều này đóng góp vào thành công ở mặt trận trong nước. Cải cách quản trị và tinh gọn bộ máy hành chính đã bổ sung cho các “sáng kiến đột phá” trong công tác nội chính. Hơn nữa, chủ trương đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, nâng cao chất lượng dịch vụ công và cải cách khu vực tư nhân đã nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước.
Về mục tiêu phát triển then chốt của Việt Nam cho năm 2030 và 2045 là chuyển mình thành quốc gia phát triển có thu nhập cao. Để đạt mốc son này, Việt Nam cần theo đuổi đồng bộ nhiều chiến lược trên cả mặt trận đối nội và đối ngoại.
Trước hết, đổi mới thể chế và tinh gọn bộ máy hành chính sẽ là nền tảng hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng. Song song với đó, cải cách kinh tế và đa dạng hóa thương mại sẽ nâng cao năng suất và khả năng chống chịu của thị trường.
Về động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ và chuyển đổi số để nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu. Đi cùng với đó là kế hoạch phát triển nguồn nhân lực toàn diện nhằm bồi dưỡng lực lượng lao động tài năng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất. Bên cạnh đó, tập trung vào chuyển đổi xanh và năng lượng tái tạo sẽ đảm bảo lộ trình phát triển bền vững.
Cuối cùng, về đối ngoại, chiến lược địa chính trị của Việt Nam cần tập trung vào quan hệ đối tác đa phương, xây dựng khả năng chống chịu và duy trì thế cân bằng giữa cạnh tranh nước lớn và các thực tế địa chính trị đang định hình tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
KYRIL WHITTAKER (nhà nghiên cứu chính trị lịch sử Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Anh)
Đoàn kết trong kỷ nguyên mới

Trong 5 năm qua, Việt Nam đã chứng kiến những bước tiến vượt bậc trong phát triển đất nước. Nhiều cột mốc mới đã được tạo dựng trong quá trình đó, từ việc hoàn thành các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn, đến việc ban hành các chính sách mới, mở rộng quan hệ với các nước khác và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Nhiệm kỳ Đại hội XIII cũng chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước như kỷ niệm 80 năm độc lập, 50 năm giải phóng miền Nam, 95 năm ngày thành lập Đảng và nhiều hơn nữa.
Điều này càng làm nổi bật tính cách mạng trong mọi sự phát triển của Việt Nam ngày nay, với hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng hiện đại như một sợi chỉ đỏ kết nối các thế hệ lãnh đạo hiện nay và những người đã đặt nền móng cho đất nước.
Trước thềm Đại hội Đảng XIV, Việt Nam đang tiến bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nơi những thành tựu đã đạt được sẽ tiếp tục được xây dựng và củng cố. Nhiều dự án mới đang được lên kế hoạch cho tương lai như tuyến đường sắt đô thị Phú Quốc, việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam, tuyến đường sắt Lào – Việt Nam, dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam và việc tiếp tục chuyển đổi phương tiện giao thông công cộng sang xe năng lượng xanh.
Cùng với đó là hàng loạt chính sách xã hội, bao gồm việc đưa dịch vụ chăm sóc y tế cơ bản miễn phí cho tất cả mọi người vào năm 2030, việc ban hành nhiều chính sách môi trường mà tôi tin là một nội dung quan trọng của Đại hội Đảng XIV, việc hoàn thành “Chiến dịch Quang Trung”, việc tiếp tục mở rộng và làm sâu sắc thêm quan hệ ngoại giao.
Đại hội Đảng XIV cũng là cơ hội để nhấn mạnh, như tất cả các đại hội trước đây, sự làm chủ tập thể của nhân dân Việt Nam, sự đoàn kết và thống nhất của đất nước khi bước vào kỷ nguyên mới và vững bước tiến tới như chủ đề mà đại hội đã nhấn mạnh là “tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.
Đọc tiếp
Về trang Chủ đề
Nguồn: https://tuoitre.vn/buoc-nhay-vot-5-nam-cua-viet-nam-20260120080956896.htm

