
Hà Nội đang đẩy nhanh tiến độ xây dựng trục liên thông dữ liệu y tế, với kỳ vọng mỗi người dân chỉ cần có một hồ sơ sức khỏe xuyên suốt, đi khám ở đâu thì thông tin cũng theo đến đó.
Mục tiêu được đặt ra không chỉ là giảm thủ tục, giảm trùng lặp xét nghiệm, mà còn hướng tới quản lý sức khỏe theo vòng đời, phục vụ điều hành, phòng chống dịch và hoạch định chính sách y tế.
Dưới góc nhìn của một chuyên gia y tế số, theo ThS Nguyễn Hữu Trọng, Tổng thư ký Hội Tin học y tế, liên thông dữ liệu không chỉ là kết nối đường truyền rồi “đẩy” hồ sơ lên hệ thống dùng chung.
Chuyên gia này cho rằng đây là thời điểm then chốt để y tế Hà Nội “chốt lại” cách làm một cách bài bản, từ cách chuẩn hóa thông tin ở cơ sở, cách tiếp nhận và kiểm soát ở cấp thành phố, cho đến cơ chế buộc các đơn vị phải gửi đúng, gửi đủ.
Theo ông, nếu làm được những việc này ngay từ bây giờ, Hà Nội không chỉ giải quyết được bài toán trước mắt, mà còn tránh được vòng luẩn quẩn “làm rồi lại sửa”.
Từ đó, Hà Nội hoàn toàn có thể biến chiến dịch liên thông dữ liệu y tế thành một bước đột phá thực sự trong lĩnh vực y tế: Dữ liệu thực sự phục vụ người dân, giúp bác sĩ có dữ liệu đầy đủ để điều trị, còn cơ quan quản lý có cơ sở tin cậy để ra quyết định.


– Tôi cho rằng gánh nặng không nằm ở hạ tầng của các cơ sở y tế nhỏ, mà nằm ở phía hệ thống trục dữ liệu, kho dữ liệu tiếp nhận dữ liệu của thành phố.
Thực tế, hầu hết các cơ sở khám chữa bệnh có thanh toán bảo hiểm y tế đều đã liên thông dữ liệu từ hơn 10 năm nay, kể cả các trung tâm y tế quận, huyện trước đây.
Vì vậy, việc họ gửi thêm một số trường thông tin sang hệ thống của thành phố về mặt kỹ thuật không phải là việc khó, cũng không tạo thêm gánh nặng đáng kể. Phần phát sinh chủ yếu chỉ là điều chỉnh dữ liệu theo chuẩn mới.
Với các cơ sở đang sử dụng phần mềm của những nhà cung cấp lớn như FPT, IsofH, Viettel hay VNPT, việc chỉnh sửa để đáp ứng chuẩn liên thông chỉ cần làm một lần trên hệ thống, sau đó các đơn vị sử dụng nền tảng đó có thể đồng loạt áp dụng.
Bài toán về công nghệ lớn chúng ta cần quan tâm là hệ thống tiếp nhận dữ liệu của Sở Y tế hay của thành phố đã thực sự đủ mạnh hay chưa.

Hiểu nôm na là chúng ta cần có một “bể chứa” tiếp nhận toàn bộ dữ liệu từ các cơ sở, hơn nữa đặc thù của ngành y tế là lưu lượng rất lớn và không đều theo thời gian. Chỉ riêng Bệnh viện Bạch Mai mỗi ngày đã có hơn 15.000 lượt khám chữa bệnh, tương đương 15.000 hồ sơ được đẩy lên. Mỗi hồ sơ lại có hàng chục, thậm chí hàng trăm trường thông tin.
Có những khung giờ, như cuối buổi sáng – thời điểm ra đơn, ra kết quả – lưu lượng dữ liệu đổ về dồn dập như “tắc đường”. Nhưng đến khoảng 16h trở đi thì ít hơn hẳn. Nếu không tính toán kỹ logic chuẩn dữ liệu và năng lực xử lý của kho, khi trên 100 bệnh viện cùng liên thông, nguy cơ nghẽn hệ thống là hoàn toàn có thể xảy ra.
Vì vậy, bài toán quan trọng không phải là “cơ sở nhỏ có đủ hạ tầng hay không”, mà là thành phố đã thiết kế kho dữ liệu đủ tải, đủ linh hoạt và có cơ chế đối chiếu đặc biệt với dữ liệu tài chính để kiểm soát chất lượng liên thông hay chưa.


– Trước hết phải bàn đến câu chuyện chuẩn hóa dữ liệu đầu vào ngay từ cơ sở. Trước đây chúng ta chưa có quy chuẩn chung do đó, hệ thống số hóa dữ liệu y tế “mỗi nơi một kiểu”, cùng một thông tin nhưng nhập khác nhau, phần mềm khác nhau.
Trong khi đó, khi liên thông, chỉ cần một khác biệt nhỏ như chữ hoa chữ thường, hoặc thêm bớt một ký tự, hệ thống có thể hiểu thành hai thực thể khác nhau.
Chúng ta đã có bài học trước đây khi Cục Quản lý Dược cho triển khai Hệ thống Dược Quốc gia và cho phép các đơn vị tự khởi tạo mã thuốc. Điều này dẫn đến câu chuyện cùng một loại thuốc, cùng một hoạt chất, nhưng có đơn vị viết chữ cái đầu in hoa, có đơn vị viết thường, có nơi thêm ký tự, thế là hệ thống hiểu thành hai, ba, thậm chí năm loại khác nhau.
Do đó chúng ta cần khống chế chuẩn từ “cổng vào”. Phải có quy chuẩn trường dữ liệu rõ ràng ngay từ đầu: trường nào bắt buộc, trường nào được phép bỏ trống, định dạng ngày tháng ra sao, viết hoa hay viết thường, có cho phép ký tự đặc biệt không, mã bệnh dùng chuẩn nào, mã thuốc dùng quy ước nào, mã cơ sở ra sao.

Nếu quy chuẩn không rõ, mỗi nơi nhập một cách, hệ thống phía trên sẽ gặp tình trạng dữ liệu không ghép được, không đối chiếu được, và cuối cùng không phân tích được.
Vì vậy, quy chuẩn không chỉ là văn bản, mà phải được “gắn” vào phần mềm ở cấp nhập liệu. Có nghĩa là nhà cung cấp phần mềm phải thiết kế các trường nhập có kiểm soát: trường nào không cho dấu chấm, trường nào không cho ký tự lạ, trường nào tự động chuẩn hóa chữ, trường nào bắt buộc chọn theo danh mục, và trường nào phải đối chiếu mã chuẩn.
Chỉ khi làm được như vậy, liên thông mới có nền dữ liệu sạch, và khi dữ liệu sạch, các câu chuyện tiếp theo như dashboard, phân tích dịch tễ, phân tích sử dụng thuốc, cảnh báo sớm mới có đất để chạy.
Nếu để dữ liệu đi vào hệ thống với chất lượng không đồng đều, rồi mới tính chuyện làm sạch sau, thì càng làm càng tốn kém và rất dễ rơi vào vòng luẩn quẩn.


– Vấn đề vẫn sẽ xoay quanh tính “đúng, đủ, sạch, sống” của dữ liệu.
Rủi ro lớn nhất là tình trạng liên thông được nhưng dùng không hiệu quả. Khi đó, dữ liệu vẫn chảy, hệ thống vẫn báo là đã kết nối, nhưng thông tin đưa lên không đầy đủ, không sạch, không có giá trị phân tích và không tạo ra lợi ích thực chất.
Hiện nay, chúng ta vẫn chưa có một chế tài rõ ràng: cơ sở phải gửi dữ liệu gì, gửi đến đâu, gửi thiếu có bị xử lý không, và nếu không gửi thì xử phạt như thế nào?
Khi không có ràng buộc, rất dễ xảy ra tình trạng gửi dữ liệu mang tính hình thức: có 10 phần thì chỉ gửi 3 phần. Thậm chí có đơn vị giữ lại dữ liệu vì cho rằng đó là “tài sản” hoặc lợi thế chuyên môn của mình.
Tôi rất mong, tinh thần của Nghị quyết 72 về chuyển đổi số sẽ được cụ thể hóa bằng những quy định bắt buộc trong ngành y tế, đặc biệt với Hà Nội.

Ngay trong Luật Khám chữa bệnh sửa đổi năm 2023, có hiệu lực từ 2024, đã quy định cơ sở phải có ứng dụng công nghệ thông tin. Nhưng luật lại chưa nói rõ ứng dụng để làm gì
Hà Nội có cơ chế đặc thù với Luật Thủ đô, và hoàn toàn có thể mạnh dạn đưa quy định bắt buộc liên thông dữ liệu vào luật để thí điểm, làm gương.
Chúng ta có thể nhìn sang lĩnh vực thuế. Khi Nghị định 70 ban hành và các văn bản chi tiết hướng dẫn triển khai nghị định, các hộ kinh doanh buộc phải xuất hóa đơn điện tử trên máy tính tiền và gửi dữ liệu về cơ quan thuế.
Nếu không thực hiện, sẽ bị xử phạt. Nhờ có chế tài, thị trường mới vận hành theo đúng luật. Nếu chỉ dừng ở mức “nên” hoặc “có thể”, rất ít người tự nguyện làm.
Trong y tế cũng vậy. Nếu không có quy định bắt buộc và xử phạt rõ ràng, sẽ tồn tại nhiều “vùng xám”.
Không liên thông có rất nhiều trạng thái, kể cả những trạng thái liên quan đến mục đích không minh bạch. Tôi lấy ví dụ, một cơ sở khám chữa bệnh tự nguyện có thể có 1.000 ca mỗi ngày, nhưng chỉ báo cáo 600 ca, phần còn lại để ngoài sổ sách. Câu chuyện này không chỉ là dữ liệu, mà còn liên quan đến tài chính, đến thuế.
Vì vậy, nếu muốn liên thông đi vào thực chất, chúng ta không thể chỉ trông chờ vào tinh thần tự nguyện, mà cần một khung pháp lý đủ mạnh, đủ rõ, và có chế tài để bảo đảm mọi cơ sở đều phải đi cùng một chuẩn mực.
Mở rộng vấn đề ra câu chuyện chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế cần sớm có những quy định rõ ràng hơn để công tác này phát huy hiệu quả rõ nét.

Bởi trên thực tế, đâu đó vẫn tồn tại tình trạng chuyển đổi số mang tính hình thức.
Có thể ví dụ, dù thống kê cho thấy đã có khoảng gần 1.500 bệnh viện triển khai bệnh án điện tử, nhưng thực chất tồn tại những cơ sở mới chỉ dừng ở mức chuyển bệnh án giấy thành file PDF rồi ký số. Cách làm này về bản chất không khác gì việc scan một văn bản giấy đưa lên mạng và gọi đó là bệnh án điện tử.
Những “bệnh án điện tử” như vậy hoàn toàn không thể liên thông và cũng không thể phân tích dữ liệu, bởi tất cả chỉ là hình ảnh hoặc file tĩnh, thiếu các quy định về trường dữ liệu.
Chúng ta cần hiểu đúng rằng bệnh án điện tử không phải là một tờ giấy được số hóa rồi ký số, mà phải là một hệ thống gồm các trường dữ liệu có cấu trúc.
Mỗi thông tin như chẩn đoán, điều trị, thuốc, xét nghiệm… đều phải được chuẩn hóa thành từng trường riêng và được ký số trên từng trường, chứ không phải ký trên một tờ giấy. Nếu không làm được điều này, thì dù gọi là chuyển đổi số, chúng ta vẫn không thể hình thành được dữ liệu lớn đúng nghĩa.
Thực tế, khi tất cả bệnh án chỉ là bản scan ký số, thì việc thống kê gần như là bất khả thi. Đơn giản nếu cần biết có bao nhiêu người mổ ruột thừa, hay bao nhiêu trường hợp được điều trị bằng một loại kháng sinh cụ thể, thì từ các file ảnh đó không thể trích xuất ra con số. Máy không thể đọc và phân tích dữ liệu từ những “bức ảnh bệnh án”.
Có thể lấy ví dụ từ hệ thống VNeID đang làm rất hiệu quả. Trên đó, mỗi công dân có từ 16 đến 26 trường thông tin dữ liệu như giới tính, ngày sinh, số định danh, địa chỉ… Các trường này được liên thông trực tiếp xuống các hệ thống, chứ không phải gửi hình ảnh căn cước.


– Tôi xin tham vấn theo góc nhìn của mình, tập trung vào bốn việc.
Thứ nhất, phải lập một hội đồng chuyên gia độc lập để định vị hai vấn đề cốt lõi: Liên thông những trường dữ liệu gì, và dùng chuẩn nào.
Ở đây có hai lớp: Tiêu chuẩn kỹ thuật và danh mục trường thông tin. Các trường này có thể bao gồm thông tin hành chính, thông tin bệnh tật, các chỉ số chẩn đoán, xét nghiệm, điều trị…
Về tiêu chuẩn hiểu nôm na là cách đóng gói dữ liệu. Nhiều hệ thống HIS của bệnh viện hiện nay chỉ dừng ở mức đủ để quản trị bệnh viện, chứ chưa thiết kế theo bất kỳ chuẩn liên thông quốc tế nào. Do đó, nếu không định vị chuẩn ngay từ đầu, càng làm sẽ càng phải sửa nhiều.
Nếu muốn tầm nhìn xa, nhất là câu chuyện du lịch y tế, hồ sơ phải có khả năng “đi ra ngoài” và “đi ngược về” theo chuẩn quốc tế. HL7 FHIR là một trong những chuẩn trao đổi dữ liệu y tế điện tử được cộng đồng quốc tế thúc đẩy mạnh, dựa trên các “resources” mô tả những thành phần cơ bản của hồ sơ y tế có thể trao đổi.

Kế hoạch của Hà Nội cũng đã đặt vấn đề tuân thủ HL7, FHIR cùng các chuẩn liên quan, vậy càng cần một hội đồng đủ năng lực để “chốt chuẩn” và “chốt trường” ngay từ đầu.
Thứ hai, sau khi có chuẩn, phải làm việc tập trung với các đơn vị cung cấp phần mềm.
Hiện nay, hầu hết bệnh viện không tự viết phần mềm HIS, mà đều đi thuê. Mỗi lần chỉnh sửa đều phải trả phí. Nếu sau khi ban hành chuẩn, mỗi bệnh viện tự gọi nhà cung cấp đến chỉnh, chi phí sẽ rất lớn.
Chỉ cần mỗi bệnh viện mất 100 triệu, 100 bệnh viện đã là 10 tỷ đồng. Trong khi đó, số đơn vị cung cấp phần mềm cho cả thành phố thực ra không nhiều, chỉ khoảng hơn 20 đơn vị.
Nếu thành phố đứng ra hiệp thương tập trung, thống nhất phương án kỹ thuật, thì mỗi nhà cung cấp chỉ cần chỉnh một lần trên hệ thống của họ. Khi đó, tất cả các bệnh viện đang sử dụng nền tảng này sẽ được cập nhật đồng loạt.
Trên cơ sở đó, thành phố có thể xây dựng gói chi trả tập trung cho các nhà cung cấp phần mềm, để bệnh viện được thụ hưởng, còn hội đồng chuyên gia sẽ là bên “cầm cân nảy mực”, đánh giá xem các nhà cung cấp đã chỉnh đúng chuẩn hay chưa.
Cách làm này sẽ tiết kiệm rất nhiều nguồn lực cho xã hội, thay vì để từng bệnh viện tự thương lượng và trả tiền riêng lẻ.
Thứ ba, phải xây dựng kho dữ liệu của Sở Y tế thật sự đủ năng lực.
Đơn vị công nghệ tham gia xây dựng kho dữ liệu phải hiểu sâu đặc thù của ngành y tế. Nếu không, sẽ xảy ra tình trạng các cơ sở đã liên thông đầy đủ, nhưng khi gửi lên thì hệ thống lại treo, nghẽn.
Thành phố cũng cần sẵn sàng (về pháp lý và kỹ thuật) cho khả năng chia sẻ dữ liệu ra ngoài, đặc biệt trong bối cảnh du lịch y tế.

Ví dụ, một công ty bảo hiểm toàn cầu đồng ý chi trả cho việc điều trị răng ở Việt Nam. Ở Mỹ, một ca có thể tốn 3.000USD, trong khi ở Việt Nam chi phí thấp hơn nhiều, kể cả cộng thêm chi phí đi lại vẫn rẻ hơn. Nhưng khi gửi hồ sơ để quyết toán bảo hiểm, nếu không đạt chuẩn quốc tế, lại phải in giấy đóng dấu mang về, thì lợi thế đó sẽ mất.
Thứ tư, phải có chế tài đủ mạnh để bảo đảm dữ liệu thường xuyên và đạt chất lượng: “đúng, đủ, sạch, sống”.
Nếu không có chế tài, nhiều đơn vị sẽ né tránh, hoặc làm hình thức, vì họ không thấy lợi ích kinh tế trực tiếp khi gửi dữ liệu để thành phố phân tích bệnh tật, sử dụng thuốc. Cần có cơ chế tác động về kinh tế. Ở một số nước, việc không cập nhật dữ liệu bị xử phạt rất nặng, và tiền phạt được dùng để thưởng cho các đơn vị làm tốt. Khi đó, hệ thống mới có động lực vận hành nghiêm túc.
Tóm lại, bốn trụ cột cần làm là:
1. Thành lập hội đồng để chốt trường dữ liệu và chuẩn dữ liệu.
2. Làm việc tập trung với các nhà cung cấp phần mềm để chỉnh sửa đồng bộ, tránh lãng phí.
3. Xây dựng kho dữ liệu đủ năng lực, đúng chuẩn.
4. Ban hành chế tài để buộc các đơn vị cập nhật dữ liệu nghiêm túc.
Cá nhân tôi nghĩ rằng việc Sở y tế thành phố Hà nội đã có những chủ trương, định hướng này là điều rất tốt, rất tuyệt vời.
Hy vọng rằng cùng với Luật Thủ đô, cùng với tinh thần đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ngành y tế thủ đô sẽ đi đầu trong việc tạo trục dữ liệu, kho dữ liệu cho chính mình phục vụ tốt hơn nữa việc quản lý cũng như nâng cao đời sống sức khoẻ cho người dân.
Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!
Nguồn: https://dantri.com.vn/suc-khoe/can-mot-nghi-dinh-70-cho-y-te-de-benh-an-dien-tu-khong-ket-o-cong-vien-20260211222614728.htm

