Chia sẻ tại Hội thảo khoa học “Nội soi siêu âm (EUS) cơ bản: Hướng dẫn thực hành” diễn ra ngày 16/1, PGS.TS Nguyễn Công Long, Giám đốc Trung tâm Tiêu hóa – Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết, nội soi siêu âm (EUS) có vai trò quan trọng trong chẩn đoán và điều trị bệnh lý tiêu hóa, gan mật, tụy.
Nội soi siêu âm là kỹ thuật kết hợp giữa nội soi tiêu hóa và đầu dò siêu âm tần số cao được gắn ngay trên đầu ống nội soi, cho phép quan sát chi tiết cấu trúc thành ống tiêu hóa và các cơ quan lân cận.
Đây là kỹ thuật không thể thiếu trong chẩn đoán sớm và điều trị các bệnh lý tụy mật và các khối u dưới niêm mạc. Tuy nhiên, việc làm chủ kỹ thuật này đòi hỏi một lộ trình đào tạo khắt khe và bài bản.
Các bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai thực hiện nội soi tiêu hóa trên bệnh nhân (Ảnh: TT).
Theo PGS Long, ung thư đường tiêu hóa, đặc biệt là ung thư dạ dày và ung thư đại trực tràng, là những bệnh lý phổ biến tại Việt Nam. Phát hiện sớm các tổn thương tiền ung thư và ung thư giai đoạn sớm sẽ giúp bệnh nhân có cơ hội điều trị thành công, cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm chi phí y tế.
Đặc biệt trong bệnh lý tuyến tụy, ung thư tuyến tụy, nội soi siêu âm có ý nghĩa rất lớn.
Ung thư tụy là một trong những thách thức lớn của y học hiện đại do khó phát hiện sớm và tiên lượng rất xấu. Tỷ lệ sống sau 5 năm của ung thư tụy trên thế giới hiện vẫn ở mức rất thấp.
Nội soi siêu âm hiện là một trong những phương tiện hiệu quả nhất trong phát hiện sớm và theo dõi các tổn thương tụy. Kỹ thuật này cho phép đánh giá chi tiết cấu trúc tụy, phát hiện các tổn thương nhỏ mà các phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác có thể bỏ sót.
PGS.TS Nguyễn Công Long, Giám đốc Trung tâm Tiêu hóa – Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, nội soi siêu âm có ý nghĩa rất lớn trong chẩn đoán sớm, điều trị các bệnh lý tiêu hóa, gan mật (Ảnh: Dung Dung).
“Nội soi siêu âm giúp bác sĩ đánh giá chi tiết các tổn thương của đường tiêu hóa, gan, mật, tụy; xác định mức độ xâm lấn của các tổn thương; hỗ trợ chẩn đoán phân biệt các tổn thương lành tính và ác tính”, PGS Long thông tin.
Với những tổn thương ung thư giai đoạn sớm còn khu trú ở lớp niêm mạc, người bệnh có thể được điều trị bằng các kỹ thuật cắt dưới niêm mạc qua nội soi, không cần phẫu thuật lớn, thời gian nằm viện ngắn và hồi phục nhanh”.
Không chỉ dừng lại ở chẩn đoán, nội soi siêu âm còn mở ra nhiều kỹ thuật can thiệp ít xâm lấn trong điều trị các bệnh lý tiêu hóa, gan mật, tụy. Tại hội nghị, các chuyên gia đã chia sẻ kinh nghiệm triển khai các kỹ thuật như dẫn lưu ổ dịch tụy, dẫn lưu nang giả tụy, nối ống mật chủ qua nội soi siêu âm cho bệnh nhân tắc mật.
So với phẫu thuật truyền thống, các kỹ thuật can thiệp này giúp giảm sang chấn, rút ngắn thời gian nằm viện, giảm chi phí điều trị và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh.
Hội thảo lần này không chỉ đơn thuần là trao đổi kiến thức mà còn tập trung vào mục tiêu “chuẩn hóa đào tạo”, giúp các bác sĩ trẻ tiếp cận nội soi siêu âm EUS một cách hệ thống, an toàn và hiệu quả nhất.
Đặc biệt, kỹ thuật lấy tế bào của khối u qua nội soi siêu âm cũng được các chuyên gia chia sẻ, “cầm tay chỉ việc” làm thực tế trên mô hình để các bác sĩ quan sát, học hỏi, nhằm đưa kỹ thuật này về các bệnh viện, tuyến y tế cơ sở.
Tuy nhiên, nội soi siêu âm không phải là phương pháp nên làm đại trà. Khi nội soi thông thường, bác sĩ phát hiện bất thường mới chỉ định siêu âm nội soi để có thể thấy rõ từng lớp niêm mạc, tổn thương, giúp bác sĩ đưa ra đánh giá chính xác tổn thương của người bệnh.
Theo PGS.TS Đào Xuân Cơ, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, trong bối cảnh y học hiện đại đang chuyển mạnh từ điều trị bị động sang y học chính xác, phát hiện sớm và can thiệp tối thiểu, các kỹ thuật chẩn đoán – điều trị tích hợp ngày càng giữ vai trò then chốt.
Nội soi siêu âm (EUS) không chỉ dừng lại ở vai trò chẩn đoán hình ảnh, mà nó đã trở thành công cụ trung tâm trong chẩn đoán sớm ung thư tiêu hoá, đặc biệt là bệnh lý tụy – đường mật, các tổn thương dưới niêm mạc, đồng thời mở rộng mạnh mẽ sang lĩnh vực can thiệp điều trị xâm lấn tối thiểu, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, giảm biến chứng và tối ưu nguồn lực y tế.
Việc chuẩn hóa quy trình kỹ thuật; gắn đào tạo với thực hành lâm sàng; kết hợp chặt chẽ giữa điều trị – nghiên cứu khoa học – chuyển giao kỹ thuật… sẽ giúp bệnh nhân ở tuyến cơ sở cũng được tiếp cận phương pháp chẩn đoán, điều trị hiện đại, khi địa phương có nhân lực, máy móc để thực hiện.
Nguồn: https://dantri.com.vn/suc-khoe/chia-khoa-phat-hien-som-nhieu-loai-benh-ung-thu-tieu-hoa-20260116160331752.htm

