Căng thẳng chính trị tại Trung Đông một lần nữa đẩy thị trường năng lượng toàn cầu vào vòng xoáy bất ổn. Sau các cuộc không kích từ ngày 28/2, hàng loạt cơ sở năng lượng tại khu vực bị tập kích, một số mỏ khí phải tạm đóng cửa, trong khi các tuyến vận tải chiến lược đứng trước nguy cơ tê liệt.
Thị trường dầu mỏ phản ứng gần như tức thì. Giá dầu Brent có thời điểm tăng tới 13%, vượt 82 USD/thùng. Một số tàu chở dầu bị hư hại, nhiều doanh nghiệp tạm dừng vận chuyển dầu thô, nhiên liệu và LNG qua eo biển Hormuz, tuyến hàng hải vận chuyển khoảng 20% nguồn cung dầu toàn cầu.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam – nền kinh tế vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn năng lượng nhập khẩu, khó đứng ngoài tác động dây chuyền.
Nguồn cung xăng dầu Việt Nam đến từ đâu?
Là quốc gia vẫn phải nhập khẩu một phần đáng kể xăng dầu thành phẩm và dầu thô, thị trường trong nước vì vậy chịu tác động trực tiếp từ biến động giá dầu thế giới. Hiện nguồn cung xăng dầu được bảo đảm chủ yếu từ sản xuất nội địa thông qua hai nhà máy lọc dầu là Nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn.
Tổng công suất thiết kế của hai nhà máy đạt khoảng 14-18 triệu tấn sản phẩm mỗi năm, đáp ứng khoảng 65-70% nhu cầu tiêu dùng nội địa. Năm 2025, sản lượng của hai nhà máy ước đạt khoảng 18,6 triệu tấn xăng dầu các loại (tăng 8,2% so với năm 2024), cung ứng khoảng 66% nhu cầu trong nước.
Tuy nhiên, mức độ “tự chủ” này chủ yếu nằm ở sản phẩm đầu ra. Ở chiều ngược lại, phần lớn dầu thô phục vụ chế biến vẫn phải nhập khẩu. Nhà máy Dung Quất hiện sử dụng khoảng 30-35% dầu thô nhập từ Tây Phi, Địa Trung Hải, Mỹ và một phần Trung Đông; trong khi Nhà máy Nghi Sơn phụ thuộc chủ yếu vào nguồn dầu từ Kuwait.
Nhà máy lọc hóa dầu Dung Quất (Ảnh: BSR).
Bên cạnh sản lượng nội địa, khoảng 30-35% nhu cầu xăng dầu thành phẩm của Việt Nam vẫn phải nhập khẩu để bù đắp thiếu hụt, chủ yếu từ các thị trường trong khu vực.
Năm 2025, Việt Nam nhập khẩu hơn 9,9 triệu tấn xăng dầu thành phẩm, trị giá khoảng 6,8 tỷ USD. Nguồn cung chủ yếu đến từ Singapore, Hàn Quốc và Malaysia – ba thị trường chiếm phần lớn tổng lượng nhập khẩu, trong đó Singapore dẫn đầu với 3,36 triệu tấn, trị giá 2,3 tỷ USD.
Bên cạnh hai nhà máy lọc dầu lớn, Việt Nam còn có một số cơ sở chế biến condensate (khí ngưng tụ) như PVOil Phú Mỹ, Đông Phương, Sài Gòn Petro… với tổng công suất trên 600.000 m3 sản phẩm mỗi năm.
Đáng chú ý, song song với nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu trong nước, Việt Nam vẫn xuất khẩu dầu thô và một số sản phẩm xăng dầu, chủ yếu là sản phẩm hóa dầu. Năm 2025, Việt Nam xuất khẩu hơn 1,3 triệu tấn xăng dầu, trị giá trên 942 triệu USD, giảm 42% về lượng và 58,8% về trị giá so với năm trước; xuất khẩu hơn 2,4 triệu tấn dầu thô, trị giá trên 1,3 tỷ USD, giảm 4,5%.
Dầu thô của Việt Nam được xuất sang các thị trường như Australia, Thái Lan, Trung Quốc và Nhật Bản; trong khi xăng dầu các loại được tiêu thụ tại một số thị trường khu vực và châu Á như Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Lào…
Ở khâu lưu thông, hệ thống kinh doanh xăng dầu hiện được tổ chức theo 4 tầng, gồm 30 doanh nghiệp đầu mối, 257 thương nhân phân phối và 17.270 cửa hàng bán lẻ trên cả nước do địa phương quản lý. Cấu trúc này tạo nên mạng lưới phân phối rộng khắp, song cũng cho thấy chuỗi cung ứng trong nước phụ thuộc lớn vào nguồn hàng từ khâu nhập khẩu và sản xuất đầu mối.
Kuwait bán nhiều dầu thô nhất cho Việt Nam
Không chỉ nhập khẩu xăng dầu thành phẩm, Việt Nam còn phụ thuộc đáng kể vào nguồn dầu thô từ bên ngoài để phục vụ chế biến. Theo số liệu thống kê của Cục Hải quan, trong năm 2025, Việt Nam nhập khẩu hơn 14,1 triệu tấn dầu thô, trị giá hơn 7,7 tỷ USD, tăng 0,9% về lượng nhưng giảm 6,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2024.
Về cơ cấu thị trường, Việt Nam hiện chỉ nhập khẩu dầu thô từ ba quốc gia gồm Kuwait, Nigeria và Brunei. Trong đó, Kuwait đang là nhà cung cấp dầu thô lớn nhất cho Việt Nam.
Trong 11 tháng 2025, nước ta nhập khẩu từ thị trường này hơn 9,9 triệu tấn dầu thô, chiếm gần 80% tổng lượng nhập, trị giá hơn 5,5 tỷ USD. Tuy nhiên, mức này giảm 7% về lượng và giảm 13% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Giá nhập khẩu bình quân khoảng 556 USD/tấn.
Nigeria là thị trường nhập khẩu dầu thô lớn thứ 2 của Việt Nam trong 11 tháng năm 2025 với hơn 799.000 tấn, trị giá hơn 458 triệu USD, tăng 14% về lượng nhưng giảm 5% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Giá nhập khẩu bình quân 573 USD/tấn.
Thùng dầu thô của Tập đoàn Vermilion Energy ở Pháp (Ảnh: Reuters).
Brunei là nhà cung cấp dầu thô lớn thứ 3 với hơn 86.000 tấn, trị giá gần 50 triệu USD, giảm 47% về lượng và giảm 52% về trị giá. Giá nhập khẩu bình quân khoảng 581 USD/tấn.
Kuwait là quốc gia vùng Vịnh, nằm sát Iraq và Saudi Arabia, thuộc khu vực Vịnh Ba Tư. Dầu thô xuất khẩu của nước này chủ yếu được vận chuyển qua eo biển Hormuz. Việc Kuwait là nhà cung cấp dầu thô lớn nhất cho Việt Nam cho thấy các biến động tại Trung Đông, đặc biệt liên quan đến tuyến vận chuyển này, có thể tác động đến nguồn cung, chi phí và giá nhập khẩu dầu thô cho nhà máy lọc hóa dầu trong nước.
Chiến sự Trung Đông ảnh hưởng ra sao đến thị trường trong nước?
Chiến sự giữa Mỹ – Israel và Iran đang tạo ra những xáo trộn sâu rộng đối với dòng chảy dầu khí toàn cầu, qua đó tác động trực tiếp đến các nền kinh tế phụ thuộc nhập khẩu năng lượng như Việt Nam.
Việc gián đoạn vận tải qua eo biển Hormuz làm gia tăng rủi ro cho hoạt động giao thương. Nhiều tàu chở dầu, LPG/NGL phải thay đổi hành trình, kéo theo chi phí vận tải và bảo hiểm tăng mạnh do lo ngại an ninh.
Tính đến ngày 2/3, ít nhất hai tàu chở dầu thô cỡ lớn (VLCC) bị trúng tên lửa, trong khi nhiều cơ sở sản xuất khí hóa lỏng tại Trung Đông bị tấn công, gây thiệt hại đáng kể. Ngày 2/3, PVGas Trading – đơn vị thuộc Tổng công ty Khí Việt Nam (PVGas) buộc phải thông báo phát sinh tình huống bất khả kháng, buộc phải điều chỉnh giãn tiến độ giao LPG nhập khẩu cho khách hàng khu vực miền Nam.
Nguyên nhân được cho là sự cố sập cầu dẫn tại cơ sở NGL Juaymah của Saudi Aramco hôm 23/2, làm gián đoạn cung cấp các lô Propane và Butane đã ký kết. Theo đó, toàn bộ các lô hàng LPG dự kiến giao về kho lạnh Thị Vải/Diêm Điền từ ngày 10/3 bị tạm dừng.
Không chỉ sự cố hạ tầng, xung đột vũ trang tại Trung Đông còn khiến hành trình tàu chở LPG qua eo biển Hormuz bị gián đoạn. PVGas Trading cho biết các tàu VLCC chở LPG theo cam kết giao cuối tháng 3 đến hết tháng 4 hiện chưa có kế hoạch giao hàng do lo ngại an toàn.
Nhân viên cửa hàng đổ xăng dầu (Ảnh: Mạnh Quân).
Doanh nghiệp đang tìm nguồn thay thế nhưng gặp khó vì thị trường Đông Á khan hiếm, đồng thời đề nghị khách hàng chủ động cân đối tiêu thụ hoặc tìm nguồn bổ sung trong thời gian chờ giải pháp tiếp theo.
Nếu xung đột kéo dài, nguy cơ gián đoạn nguồn cung đầu vào cho các nhà máy lọc dầu trong nước có thể gia tăng, đồng thời gây áp lực lên kế hoạch nhập khẩu của các doanh nghiệp đầu mối. Giá xăng dầu trong nước cũng có xu hướng biến động theo thị trường thế giới, đặc biệt trong bối cảnh chi phí vận tải và bảo hiểm tàu biển leo thang.
Lãnh đạo một doanh nghiệp đầu mối phía Nam cho biết sau xung đột ở Trung Đông giá dầu thô thế giới tăng vọt. Ngày 2/3, giá xăng RON 95 nhập khẩu từ Singapore ở mức 92,78 USD/thùng, RON 92 ở mức 90,32 USD/thùng, tăng vọt khoảng 9-12 USD/thùng so với 6 ngày trước đó. Hiện chiết khấu nhiều nơi đã về mức 0 đồng gây nhiều khó khăn cho hàng chục nghìn cửa hàng bán lẻ xăng dầu.
Bên cạnh yếu tố giá, tác động còn thể hiện ở chi phí logistics tăng cao, kế hoạch dự trữ phải điều chỉnh linh hoạt hơn và thị trường LPG/khí hóa lỏng đứng trước nguy cơ xáo trộn nếu nguồn cung từ Trung Đông suy giảm.
Nguồn: https://dantri.com.vn/kinh-doanh/chien-su-trung-dong-ruc-lua-nguon-cung-xang-dau-viet-nam-ra-sao-20260303152756226.htm

