Dạy bài thơ khuyết danh không làm giảm lòng yêu nước
SGK Ngữ văn 9 bộ Cánh diều để tên tác giả bài thơ “Nam quốc sơn hà” là “KHUYẾT DANH” gây tranh cãi trên mạng xã hội những ngày qua.
ThS Vũ Thị Thanh Tâm (Ảnh: T.T).
ThS Vũ Thị Thanh Tâm, người sáng lập dự án phát triển văn hóa đọc “Ô cửa sách”, từng giảng dạy tại Trường Phổ thông Năng khiếu và Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn (Đại học Quốc gia TPHCM) khẳng định việc dạy “Nam quốc sơn hà” là bài thơ chưa xác định tác giả không làm suy giảm tinh thần yêu nước.
Trái lại còn làm ý thức dân tộc sâu sắc hơn, mở rộng hiểu biết lịch sử của học sinh ra nhiều triều đại và giúp các em hiểu hơn về văn hóa, tâm linh của nước Việt từ ngàn xưa.
Bà cho rằng nếu chỉ dạy “Nam quốc sơn hà” như một bài thơ do Lý Thường Kiệt sáng tác, học sinh sẽ ghi nhớ tài năng của một danh tướng đời Lý, nhưng cách tiếp cận ấy dễ thu hẹp ý nghĩa tác phẩm vào hình tượng một cá nhân anh hùng.

Nội dung đầy đủ trong bài học về tác phẩm Nam quốc sơn hà, sách giáo khoa Ngữ văn 9 Cánh diều (Ảnh: Hoàng Hồng).
Khi thừa nhận bài thơ có nguồn gốc “KHUYẾT DANH”, gắn với truyền thuyết thơ thần của hai vị Trương Hống – Trương Hát, học sinh sẽ có cơ hội hiểu sâu hơn về lịch sử, văn học, tín ngưỡng và cách người Việt trong quá khứ kiến tạo, bảo vệ ý thức chủ quyền dân tộc bằng cả lý trí lẫn niềm tin.
Việc ghi tác giả là “KHUYẾT DANH” yêu cầu giáo viên phải khai thác chú thích thơ tương truyền do Thần đọc.
Hai vị thần ấy là Trương Hống – Trương Hát, những tướng lĩnh theo Triệu Việt Vương chống giặc thế kỷ VI, sau khi mất được nhân dân thờ phụng vì khí tiết. Qua đó, học sinh hiểu rằng suốt hơn nghìn năm Bắc thuộc, dân tộc ta chưa từng cam chịu mà biết bao anh hùng đã khởi nghĩa oanh liệt và nhân dân luôn ghi nhớ công lao tiền nhân giữ nước.
Về bối cảnh vì sao “Thần đọc thơ”, ThS Vũ Thị Thanh Tâm dẫn theo “Lĩnh Nam chích quái”, trong cuộc kháng chiến chống Tống thời Lê Đại Hành, nhà vua mộng thấy hai thần hiện lên giúp đánh giặc bằng bài “Thơ Thần”. Khi đất nước lâm nguy, các thần xin cùng nhà vua “cứu sinh linh”, dẫn binh quỷ phối hợp tấn công giặc.
Trong cao trào ấy, “Nam quốc sơn hà” vang lên như lời phán quyết của trật tự thiêng liêng: Chủ quyền nước Nam đã được định trong thiên thư, kẻ xâm lược tất yếu thất bại.
Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, Lý Thường Kiệt khi đánh giặc cũng được hai thần phù trợ. Lời thơ Thần vang lên khẳng định cuộc chiến chính nghĩa của quân dân đời Lý có sự tiếp nối và che chở của tiền nhân.
Phần tổng quan trong sách Ngữ văn lớp 9 năm 1990 ghi “Nam quốc sơn hà thường được coi là của Lý Thường Kiệt” (Ảnh: T.L).
Từ đây, giáo viên có thể mở rộng giảng dạy về tín ngưỡng thờ Thánh Tam Giang ở châu thổ sông Hồng – nơi hai vị tướng được nhân dân phong thánh và thờ phụng đến ngày nay. Trong nhiều cuộc kháng chiến sau này, dân gian tiếp tục truyền tụng cho thấy “Nam quốc sơn hà” không chỉ là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên mà còn là tuyên ngôn thiêng liêng, bền vững của người Việt Nam.
Vì thế, “Nam quốc sơn hà” cần được hiểu không phải như một sáng tác văn chương cá nhân, mà là sản phẩm ngôn từ mang tính nghi lễ – chính trị – tâm linh. Bài thơ là lời tuyên cáo của cả dân tộc trước trời đất và kẻ thù, lý giải vì sao tác phẩm có nhiều dị bản, không xác quyết tác giả và được gọi là “Thơ Thần”. Chủ thể phát ngôn ở đây chính là non sông, lịch sử và chính nghĩa.
“Thừa nhận Nam quốc sơn hà là “Thơ Thần” không làm suy yếu tính lịch sử của tác phẩm, mà ngược lại, làm rõ tình yêu nước đã hòa vào văn hóa, tinh thần. Học sinh sẽ hiểu rằng chủ quyền quốc gia trong tư duy truyền thống Việt Nam không chỉ là vấn đề chính trị, mà là vấn đề đạo lý và trật tự vũ trụ”, bà Tâm nhấn mạnh.
Sách giáo khoa để khuyết danh tác giả: Không vô lý
Để đánh giá việc sách giáo khoa Cánh diều ghi “Nam quốc sơn hà” là khuyết danh có hợp lý không, bà Tâm cho rằng cần nhìn lại cách sách giáo khoa trước đây đã trình bày vấn đề này.
Trong giai đoạn 1990-2003, các sách văn học trung đại chỉ ghi bài thơ “thường được coi là” của Lý Thường Kiệt, chứ không khẳng định.
Bài “Nam quốc sơn hà,” dù nêu tên Lý Thường Kiệt, sách vẫn chú thích rõ đây là “Thơ Thần”, do Thần đọc và từng xuất hiện nhiều lần, trong đó có năm 981 thời Lê Hoàn, khi Lý Thường Kiệt chưa ra đời.

Bài học “Nam quốc sơn hà” trong sách Văn học lớp 9 năm 1990 (bản 2002) giới thiệu đây là bài thơ của Thần, do Thần đọc giúp Lý Thường Kiệt (Ảnh: T.L).
Sang giai đoạn 2003-2020, SGK không ghi tên tác giả bài thơ và chú thích rõ là chưa xác định được tác giả. Các sách giai đoạn này cũng cung cấp thêm bản dịch của Ngô Linh Ngọc, hiện được sách Cánh Diều sử dụng, đồng thời giải thích rõ vì sao cần dịch chữ “đế” là “đế” chứ không phải “vua” để bảo đảm tinh thần chủ quyền quốc gia.
Nhìn lại toàn bộ quá trình này cho thấy để “KHUYẾT DANH” trong SGK Cánh diều không hề vô lý. Đây không phải là thay đổi hay phủ nhận lịch sử, mà là sự tiếp nối nhất quán cách tiếp cận đã tồn tại nhiều thập kỷ trong giáo dục phổ thông.



Bài dạy “Nam quốc sơn hà” trong sách giáo khoa giai đoạn 2004-2020 (Ảnh: T.T).
Một trong những nguyên nhân khiến SGK mới gặp phản ứng trái chiều, bà Tâm cho rằng là do nhiều người không thể chấp nhận sự thay đổi kiến thức so với điều họ từng được dạy. Có người lo ngại sự thay đổi ấy làm nên những khác biệt kiến thức của thế hệ sau so với thế hệ trước hoặc ảnh hưởng đến lòng yêu nước của học trò. Điều này theo bà Tâm là không có cơ sở.
ThS Vũ Thị Thanh Tâm cũng đề xuất Bộ GD&ĐT và các trường đại học cần tổ chức hội thảo về những thay đổi kiến thức trong sách mới so với sách cũ và đẩy mạnh việc truyền thông không chỉ qua các cơ quan báo chí mà cả qua mạng xã hội. Truyền thông của ngành giáo dục thay vì chạy theo, cần phải đi trước các phản ứng thông thường khi thay đổi kiến thức.
Nguồn: https://dantri.com.vn/giao-duc/co-giao-day-van-noi-ve-viec-de-khuyet-danh-tac-gia-nam-quoc-son-ha-20260109095147006.htm

