Giờ đây, trước mắt tôi hiện ra một thế giới hoàn toàn khác lạ với hình ảnh trung tâm trùng vây bê tông và nhà kính: Một vườn rau xanh bên một nếp nhà gỗ cũ kỹ như là một không gian song song được trích ra từ một quá khứ xa xôi…
“Biên bản” một nhà vườn
Khu vườn được bao quanh bởi một con đê khép kín. Lưng đê cuối thửa đất rộng ba nghìn mét vuông cũng làm chức năng đập ngăn dòng nước Kênh Rạch (vốn là một chi lưu của dòng Cam Ly, nối hồ Than Thở với hồ Xuân Hương) chảy qua. Lối vào khu vườn cũng là con đường tráng bê tông sạch sẽ, hai bên là triền cỏ dại. Góc phải khu vườn là một giàn hoa tường vi với phần gốc rắn rỏi và bè rộng như phần tua của một con bạch tuộc bám riết vào một bức tường vỡ. Hẳn là một cây tường vi cổ thụ có tuổi đời hàng vài mươi năm. Các bối rễ của nó xuyên sâu vào lòng đất, những nhánh chính đầy gai nhọn tủa lên cao và bật ra những cành sum suê lá non, đầu cành là những chùm hoa hàng trăm nụ trổ bông màu hồng thắm như lời chào nhỏ nhẹ, dung dị suốt bốn mùa của khu vườn.




Khu vườn xanh mát và yên tĩnh của vợ chồng chị Thanh Quỳnh ở đường Cô Giang, Đà Lạt
ẢNH: NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
Cũng như nhiều khu vườn ở trên đường Lữ Gia, vào những năm 60, 70 của thế kỷ trước, đây vốn thuộc phần đất đai của Trường Chỉ huy và tham mưu, thuộc Võ bị Đà Lạt (của chế độ cũ). Người dân ở vùng vành đai đã tìm cách khai thác lấn dần, mở mang các thửa đất trống để mở ra những khung vườn canh tác. Về sau, khi chiến tranh kết thúc, chính nơi đây lại trở thành những thửa vườn xanh ngút mắt góp phần làm giàu sản lượng rau xanh cho Đà Lạt, trong khi một phần lớn diện tích thì thuộc về Học viện Lục quân.
Làm vườn chủ yếu phụ thuộc vào thương lái và thời tiết, lúc có giá thì cũng đủ sống nhưng cũng có lúc cho bà bờ (đem ra đổ ngoài bờ suối), rồi thêm thời tiết ngày càng khắc nghiệt, lụt lội xảy ra thường xuyên hơn nên chi phí để làm bờ ngăn nước, cải tạo đường đi sau lụt cũng nhiều! Nhưng làm vườn cũng như một nếp sống, kiểu ngày nào không đi thăm vườn thì không chịu được, vườn còn trồng thêm các loại cây cảnh, ăn trái, thử nghiệm một số giống mới như ổi, sim, táo, lê, như một thú vui, và về vườn chăm sóc cây cối cũng là niềm vui.
Khu vườn mà tôi đang bước vào với tâm trạng bâng khuâng khó tả như trở lại Đà Lạt của thập niên 1990 này là của ông Chế Quang Lành, 79 tuổi, một người gốc Huế có cha mẹ là dân lao động, nhập cư Đà Lạt từ thuở ban đầu sáng lập phố thị này. Ông Lành đã cùng cha khai thác khu đầm lầy ở ven dòng Kênh Rạch từ khoảng năm 1968-1970 để mở đất làm vườn. Từ bấy đến nay, từ đời cha mẹ ông, đến gia đình ông đã gắn với đất đai của khu vườn như những nông dân thuần túy, dù khung cảnh Đà Lạt biến đổi chóng mặt.
Một ngày như mọi ngày, ba thế hệ trong gia đình ông vẫn đều đặn túc tắc từ nhà riêng trên đường An Dương Vương đi sang Lữ Gia để “làm vườn”, nhịp nông nhàn, chậm rãi cứ như chẳng có đổi thay nào xảy ra.
Trong gian nhà chái gỗ, có những nông cụ đã được sử dụng qua hàng vài chục năm, góc bếp và nhà kho cũng thở ra một mùi cũ kỹ dường như thời gian lưu cữu. Cách làm vườn của họ năm này qua tháng khác, vượt trên kế mưu sinh, mà như thực hành một nghi thức của đời người với đất đai. Bà Hoàng Thị Nga, vợ ông Lành, và anh con trai cười chân chất, nói với tôi rằng, họ vừa làm vừa quen lắng nghe đất đai, dòng nước, hoa màu cây cỏ, đất trời, nên tìm thấy sự nhẹ nhàng trong lao động. Họ giữ lại nụ cười hiền hậu của dân nhà vườn thuần chất. Khu vườn của họ phóng khoáng sương gió, trong khi các mái plastic, nhà kính đã vây bủa chung quanh. Một sự cố chấp thuần khiết khiến tôi rung động.
Chủ vườn cho biết trước đây vườn này chủ yếu trồng khoai tây, sú, cải thảo, ca-rôn, rau ăn lá theo mùa, giờ thì chủ yếu trồng một số loại ăn lá ngắn ngày như hành tây và các loại rau giống ngoại nhập cho các nhà hàng và đặc biệt là khoai tây. Khí hậu biến đổi, diện tích làm nông trong nhà kính từ ngoại ô chiếm đa số, thì khu vườn trở thành nơi hội tụ của nhiều loài côn trùng gây hại, và đó là một thử thách cho những người làm vườn ngoài trời theo lối nông nghiệp thuận tự nhiên. Không ít lần bà phải đứng bó tay ngó cảnh xơ xác của vườn rau sau một đêm, nhưng dần dần thì cũng thích ứng được nhờ các giải pháp khắc chế thiên địch và chế phẩm sinh học. Khu vườn luôn mở ra những bài học mới trong hình thế thời tiết đổi thay.
“Làm vườn chủ yếu phụ thuộc vào thương lái và thời tiết, lúc có giá thì cũng đủ sống nhưng cũng có lúc cho bà bờ (đem ra đổ ngoài bờ suối), rồi thêm thời tiết ngày càng khắc nghiệt, lụt lội xảy ra thường xuyên hơn nên chi phí để làm bờ ngăn nước, cải tạo đường đi sau lụt cũng nhiều! Nhưng làm vườn cũng như một nếp sống, kiểu ngày nào không đi thăm vườn thì không chịu được, vườn còn trồng thêm các loại cây cảnh, ăn trái, thử nghiệm một số giống mới như ổi, sim, táo, lê, như một thú vui, và về vườn chăm sóc cây cối cũng là niềm vui”, ông Lành kể.

Thu hoạch khoai tây ở khu vườn của ông Lành
Khi tôi viết những dòng này, thì những cơn mưa dài giữa tháng 11.2025 đã khiến dòng chảy của suối Cam Ly trở nên hung hãn. Dòng nước dâng cao gây ngập khu vườn và nhấn chìm những hoa màu chuẩn bị cho vụ thu hoạch cuối năm. Dòng nước cũng cuốn bật gốc bụi hoa tường vi già. Khi nước rút đi, vạch ngấn bùn hằn lên một phần ba chiều cao vách ván của chái nhà. Toàn bộ cây cối trong vườn phủ một lớp bùn nhão màu nâu sạm. Bà Nga và các con lại mò tìm trong đất bùn những cây, củ còn sót lại, dựng dậy những thân cây ăn trái ngã rạp và chiết trồng những cành tường vi còn tươi để gầy trở lại. Họ làm tất cả như cách chữa lành cho khu vườn, và tin tưởng khu vườn là nơi yên ổn nhất để mình giữ nhịp sống, lối sống bình yên này.
Vườn, nơi nương náu
Trở lại lịch sử sáng lập Đà Lạt. Vườn (le jardin) từng là từ mục ưu tiên số một trong cấu trúc không gian đô thị này. Vườn cung cấp nguồn thực phẩm xanh trong tầm nhìn của Toàn quyền Paul Doumer năm 1898, khi ông giao phó cho thanh tra canh nông Trung kỳ Jacquet yêu cầu biến Langbiang thành vườn rau của người Pháp ở Đông Dương. Điều này đưa đến sự hình thành một nông trại ở Dankia do cố vấn nông nghiệp Paul Domerc, và sau đó là Phó thanh tra Nha Canh nông Auguste-Félix-Marie d’André đảm nhiệm. Đến thời người Việt ồ ạt nhập cư vào Hà Đông, Nghệ Tĩnh, Thái Phiên (thập niên 1930-1960), nhà vườn còn là không gian tạo nên nếp sống hiền hòa, góp vào căn tính đô thị.

Khu vườn nhà ông Lành ở Lữ Gia, Đà Lạt
ẢNH: NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
Vườn nội ô Đà Lạt xuất hiện trong các bài ghi chép của lữ khách phương xa đặt chân đến đây, như một phần cảnh sắc làm nên dấu ấn của Đà Lạt. Ký giả V.M trên tờ L’Echo annamite năm 1925 đã dùng biểu tượng “vườn” để ngợi ca khi tôn vinh Đà Lạt là “Vườn địa đàng ở Đông Dương”. Còn một ký giả Pháp viết trên tờ L’Asie nouvelle năm 1937 rằng Đà Lạt có không gian sống tao nhã một phần là nhờ những khu vườn: “Khi thiết kế thành phố, chúng ta tránh những tòa nhà phô trương và vô duyên. Khắp mọi nơi, những biệt thự gợi cảm thu mình sau những vườn hoa đáng yêu, những khu vườn đầy giống hoa từ châu Âu”.
Người Đà Lạt sống bình lặng trong những khu vườn, có lẽ khởi nguồn từ đây: một sự cấu trúc và sắp xếp không gian sống đủ tạo nên một hệ sinh thái cho con người nương náu, nối kết với tự nhiên và có thể xây dựng nếp sống gắn với giá trị an vi, nhàn dật.
Tôi nhắc lại lai lịch những khu vườn khi ngồi dưới hàng hiên căn nhà gỗ thấp của vợ chồng anh chị Hiếu – Quỳnh ở đường Cô Giang và thảnh thơi nhìn ngắm khu vườn được họ chăm chút như một gia sản vô giá. Ở một vị thế gần như lòng chảo, khu vườn bị che phủ bởi những tán cây tùng, bạc hà và những vách tường lớn của các ngôi nhà lầu và biệt thự lân cận.
Hơn ba mươi năm nay, đôi vợ chồng Đà Lạt đã giữ được một nếp vườn với hệ sinh thái hiền hòa bên nếp nhà gỗ nhỏ nhẹ. Những lối đi qua trảng cỏ, bờ rào đầy hoa phong lan các loại, những tán ổi, cây phong, giàn mai xanh bản địa, cây cơm nước, cây sò đo cam và sim tím… dẫn xuống một lòng ao mọc đầy những hoa súng tím. Nếu đứng từ cuối thửa đất nhìn lên, có thể thấy khu vườn có tới năm tầng cây nối tiếp. Chính năm tầng cây này đã trở thành một “mảnh rừng” nhỏ để sóc và các loài chim từ chào mào, bông lau, sẻ ri, bìm bịp cho đến chim cuốc về làm tổ và sinh sống. Chủ vườn thuộc tập tính từng loài chim. Buổi chiều, họ chuẩn bị những gáo nước ngọt cho lũ chim về thỏa thuê uống và tắm. Một số loài chim như vành khuyên, rẻ quạt vốn nhát người, vậy mà trong khu vườn này, khi anh Hiếu ngồi vun đất trồng cây vào các chậu trước khi chuyển đi cho khách làm xanh những khu vườn khác, thì chúng có thể nhảy nhót đùa giỡn ngay bên cạnh, líu lo chuyện trò…
Trong khu vườn này, các tầng cây từ cụm rêu ẩm, cỏ dại hay khóm tuyết cầu đến những bụi trúc, papyrus, cẩm tú cầu hay cao hơn là những cây phong, cây sim hoa tím đều liên đới với nhau trong một hệ sinh thái hài hòa.
Một ngày ngồi bên tách cà phê giữa ánh sáng tĩnh lặng xuyên qua kẽ lá và màn sương dày phủ xuống khu vườn, chủ vườn nói với khách rằng, với Đà Lạt, chỉ cần con người chịu lùi lại thì cây cối sẽ tự hồi sinh và mang đến những món quà vô giá cho cuộc sống. Nhưng liệu còn có thể?
Nguồn: https://thanhnien.vn/da-lat-tim-dau-vuon-xua-185260131184323485.htm

