“Tôi bỏ nghề nho, học nghề thuốc, hơn 20 năm nằm gai nếm mật, cố để biết được y lý, còn việc đời hay dở, tôi coi như đám mây trên đỉnh núi.
Tôi làm nhà ở nơi vắng người, đóng cửa đọc sách, tìm hết sách của mọi nhà, ngày đêm nghiên cứu, một khi được câu cách ngôn của bậc tiên hiền thì ghi lại để suy nghĩ.
Những câu nào lý lẽ ở ngoài câu nói mà tôi suy ra được thì lại tìm cho rộng ra, như vòng tròn không có đầu mối để biết được đến cùng”, phần tiểu dẫn của Hải Thượng Lãn Ông trong cuốn sách của mình.
Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (Ảnh tư liệu).
Cha đẻ bộ sách “bách khoa toàn thư” của nền y học cổ truyền Việt Nam
Nói đến Hải Thượng Lãn Ông, hầu hết những ai theo nghề y đều biết đến ông là cha đẻ của bộ sách y học nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử Đông y Việt Nam, được coi là “Bách khoa toàn thư” của nền y học cổ truyền nước nhà.
Tác phẩm “Y tông Tâm lĩnh” không chỉ là di sản học thuật, mà còn là kết tinh của một đời tận tụy với người bệnh.
Ông đã thu thập tổng hợp 2.854 phương thuốc kinh nghiệm hay của các bậc tiền bối lưu truyền trong dân gian và phát hiện bổ sung hơn 350 vị thuốc Nam.
Theo cuốn Danh nhân y học Việt Nam (Nxb Trẻ, 1999), công trình đồ sộ này được Lê Hữu Trác (Hải Thượng Lãn Ông) âm thầm biên soạn trong suốt 30 năm.
Tác phẩm được viết chủ yếu bằng chữ Hán, gồm 28 tập với 66 quyển, toàn bộ công trình được khắc in lần đầu vào năm 1885, đánh dấu mốc quan trọng trong việc lưu truyền tri thức y học dân tộc.
Trong tác phẩm có 3 điều cốt yếu gồm: giải thích rõ chân lý y học Việt Nam khác gì so với Trung Quốc, nghiên cứu cây thuốc và phương pháp chữa bệnh bằng thuốc Nam, chép lại những bệnh nan y mà ông đã chữa được và những bệnh không chữa được.
Trình độ y học của dân tộc ở thế kỷ XVIII của nước ta đã phát triển lên một mức độ cao hơn hẳn khi có tập Y tông Tâm lĩnh.
Tính khoa học của tác phẩm được thể hiện qua 2 tập Dương án và Âm án. Trong Dương Án, người thầy thuốc kể lại bệnh án khó nhưng được chữa khỏi, còn tập Âm án trình bày 12 trường hợp bệnh khó, chữa không khỏi mặc dù ông đã đem hết tinh thần cứu chữa.
Sách Hải Thượng Y tông Tâm lĩnh (Ảnh: Tủ Sách Của Bạn).
Hải Thượng Lãn Ông đã tỏ ra vô cùng hối hận về việc cho thuốc bồi bổ chưa đúng mức hay dặn cách uống thuốc chưa thật kỹ mà xảy ra tử vong.
Cái hay của ông nằm ở việc tiếp thu thành quả của người xưa một cách sáng tạo, chứ không phụ thuộc vào những điều đã được nghiên cứu.
Bất cứ vấn đề gì người thầy thuốc này cũng tìm cách áp dụng cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện tự nhiên. Ông đã nghiên cứu mở rộng thêm, áp dụng nhiều kinh nghiệm mà mình thu thập được rồi tìm tòi bổ sung thêm những gì người xưa còn thiếu sót và hệ thống lại một cách rành mạch.
Trước khi sách được in, người dân thời đó đã chép lại, truyền tai nhau để đọc và lập bàn thờ sống để bày tỏ lòng biết ơn người thầy thuốc.
Bỏ áo lính, tìm đọc sách cứu người
Theo cuốn Lịch sử y học (Nxb Y học, 1998), Lê Hữu Trác sinh ngày 12/11/1724 ở làng Liêu Xá, huyện Đường Hào (nay là tỉnh Hưng Yên), mất ngày 15/1/1791 tại Hà Tĩnh.
Thuở trẻ, ông từng nghiên cứu binh thư, rèn luyện võ nghệ và tham dự nhiều trận mạc với khát vọng trở thành một võ tướng hữu tài. Ông gia nhập quân đội Trịnh, nuôi chí lập thân bằng con đường binh nghiệp.
Sau một thời gian, ông nhận ra mình không thực sự thuộc về chiến trường. Rời quân ngũ, ông tìm về Nghệ An, bắt đầu con đường hành y.
Từ đó, ông sống cuộc đời ẩn cư và tự nhận mình là “Lãn Ông” (có nghĩa là ông già lười), nhưng thật sự ông không hề lười giống như tên, Hải Thượng làm việc rất cần cù, tâm huyết và cũng đầy sức sáng tạo.
Bức tượng của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác nằm ở chân núi Minh Tự, tỉnh Hà Tĩnh (Ảnh: Dương Nguyên).
Miệt mài ngày đêm bên những trang sách thuốc, ông tự học và tự nghiệm bằng một ý chí hiếm thấy.
Năm 1754, ông lặn lội ra Kinh đô với khát vọng tìm thầy giỏi để lĩnh hội thêm tinh hoa y học. Nhưng không gặp được bậc danh sư như mong muốn, ông lặng lẽ mua sách, sưu tầm tư liệu mang về tiếp tục nghiên cứu.
Không có người dẫn dắt, ông chọn con đường tự đào sâu, đối chiếu, thực hành và chiêm nghiệm. Khoảng 10 năm sau, tên tuổi Hải Thượng Lãn Ông đã vang khắp vùng Nghệ Tĩnh (nay là Nghệ An và Hà Tĩnh), được người dân tìm đến không chỉ bởi tài chữa bệnh, mà còn bởi y đức và sự tận tâm với từng sinh mệnh.
Năm 1760, ông mở lớp truyền dạy nghề thuốc, vừa đào tạo học trò, vừa trao đổi học thuật với bạn hữu và dày công sưu tầm các bài thuốc dân gian.
Với Hải Thượng Lãn Ông, tri thức y học không chỉ nằm trong sách vở mà còn hiện diện trong đời sống, trong kinh nghiệm được chắt lọc qua nhiều thế hệ.
Cha đẻ Y tông Tâm lĩnh thường căn dặn học trò: “Làm thầy thuốc mà không có lòng thương, giúp đỡ người khác làm hằng tâm, không nghiền ngẫm sâu sắc tìm cách cứu sống người mà chỉ chăm chăm kể lợi tính công, lấy của hại người thì còn khác gì bọn giặc cướp”.
Vị tri thức thế kỷ XVIII cũng đặc biệt coi trọng tính trung thực và quan sát thực tiễn. Mỗi bệnh án đều được ghi chép cẩn trọng.
Ông theo dõi khí tượng, quan sát chiều gió, đối chiếu sự biến đổi của thời tiết, khí hậu với diễn biến bệnh dịch. Cách tiếp cận ấy cho thấy một tư duy khoa học tiến bộ: nhìn bệnh tật không tách rời môi trường sống, mà đặt con người trong mối liên hệ hữu cơ với tự nhiên.
Tượng đài Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác được dựng với hơn 1.600 tấn đá cẩm thạch (Ảnh: Dương Nguyên).
Năm 1781, khi danh tiếng đã lan xa, Lê Hữu Trác được chúa Trịnh triệu ra kinh đô Thăng Long để chữa bệnh cho Trịnh Sâm và thế tử Trịnh Cán.
Với nhiều người, đó là vinh dự lớn lao, thế nhưng, đêm trước ngày lên đường, ông không khỏi trằn trọc. Người thầy thuốc tận tụy đắn đo giữa vòng danh lợi và chí hướng ẩn dật, giữa trách nhiệm của một thầy thuốc và nỗi e dè nơi quyền lực.
Cuối cùng, ông chấp hành lệnh triệu, chuyến đi trở thành chất liệu cho tập bút ký nổi tiếng Thượng kinh ký sự. Qua từng trang viết, ông ghi lại chân thực quang cảnh kinh thành, đời sống nơi phủ chúa và cả những suy ngẫm của một danh y trước quyền thế, lễ nghi và thân phận con người.
Danh y dân tộc được UNESCO công nhận
Ngày 21/11/2023, Phiên họp của Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) lần thứ 42 đã thông qua nghị quyết, vinh danh Lê Hữu Trác là Danh nhân văn hóa thế giới vì những giá trị mà ông để lại không chỉ giới hạn trong biên giới Việt Nam mà còn có ý nghĩa toàn cầu.
Trong văn bản 42C/15, tên tuổi Đại danh y Lê Hữu Trác được trân trọng ghi nhận với đầy đủ danh xưng: Hải Thượng Lãn Ông của Việt Nam. Văn bản nêu rõ: “Kỷ niệm 300 năm ngày sinh Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, bác sĩ (1724 – 1791)”.
Đại hội đồng UNESCO vinh danh Đại danh y Lê Hữu Trác (Ảnh: TTXVN).
Tư tưởng y học của ông đặt nền tảng trên y đức và lòng nhân ái, coi sinh mệnh con người là giá trị tối thượng. Chính hệ tư tưởng ấy đã tạo nên dấu ấn bền vững, góp phần làm giàu thêm nền y học cổ truyền Việt Nam, đồng thời lan tỏa ảnh hưởng đến nhiều quốc gia, đặc biệt trong không gian văn hóa Á Đông.
Nhiều nguyên tắc do ông đặt nền móng như cá thể hóa điều trị cho từng người bệnh hay đề cao vai trò phòng bệnh hơn chữa bệnh đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Tinh thần ấy không xa lạ với y học hiện đại, khi việc xây dựng phác đồ dựa trên đặc điểm riêng của mỗi bệnh nhân và chú trọng dự phòng ngày càng trở thành xu hướng chủ đạo.
Sự tương đồng đó cho thấy những tư tưởng mà Lê Hữu Trác xác lập từ thế kỷ XVIII đã vượt qua giới hạn của thời đại. Các giá trị ông để lại không chỉ thuộc về một giai đoạn lịch sử, mà tiếp tục được soi chiếu, kế thừa và phát triển trong dòng chảy y học đương đại.
Những lời Hải Thượng Lãn Ông đã viết theo cuốn Danh nhân y học Việt Nam:
1. Học thuốc phải thấu hiểu cả nho lý, rỗi nên xem những sách thuốc của các bậc lương y thời trước, để gặp người bệnh biết thông biến, mới khỏi sai lầm.
2. Nếu nhà bệnh có mời, nên tùy bệnh nặng nhẹ mà đi xem, chớ thấy người phú quý mà đi trước, nhà bần tiện mà đi sau.
3. Xem mạch cho đàn bà, con gái, nhất là gái góa và các ni cô, phải bảo một người đứng cạnh để tránh sự hiềm nghi.
4. Đã làm nhà thuốc phải để ý giúp người, mà không nên vắng nhà luôn, nhất là đi hành lạc.
5. Gặp chừng bệnh ngặt, muốn hết sức cứu vãn, nhưng nói cho người nhà có bệnh biết trước là bệnh khó chữa, rồi hãy cắt thuốc.
6. Thuốc phải chọn vị tốt và bào chế đúng phép, chứ không được cẩu thả.
7. Gặp người đồng nghiệp, người học hơn mình thì thờ làm thầy, người cao hơn mình thì kính cẩn, người kém mình nên khuyên bảo thêm, dù gặp người kiêu ngạo cũng nên khiêm nhường.
8. Chữa bệnh cho người nghèo và quan quả cô độc, ta càng thêm lưu ý, nhất là người con hiếu, vợ hiền hay nghèo mà bị bệnh, thời ngoài sự cho thuốc, ta có thể trợ cấp thêm, nếu không đủ ăn, như thế mới là nhân thuật.
9. Khi bệnh nhân khỏi, chớ cầu trả lễ nhiều, nên để họ tùy ý vì làm thuốc là thuật thanh cao, thời phải có tiết thanh cao.
Nguồn: https://dantri.com.vn/suc-khoe/danh-y-viet-tu-xung-ong-gia-luoi-30-nam-viet-sach-luu-truyen-hang-the-ky-20260223123212978.htm

