Theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, thế giới đang bước vào giai đoạn năng lực công nghệ quyết định vị thế quốc gia, và doanh nghiệp công nghệ phải là một phần “năng lực quốc gia” của Việt Nam.
Đầu năm 2026 Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng có bài chia sẻ với các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam, trong bối cảnh công nghệ được nhìn nhận là nền tảng cho mọi ngành, góp phần tăng năng suất lao động, đưa Việt Nam tăng trưởng hai con số.
Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng tham quan, trao đổi với các kỹ sư công nghệ tại một triển lãm ở TP Đà Nẵng, ngày 28/7/2025. Ảnh: Nguyễn Đông
Thay mặt Bộ Khoa học và Công nghệ, tôi cảm ơn các doanh nghiệp đã chọn con đường khó nhất: làm công nghệ lõi, làm sản phẩm, làm nền tảng, làm những thứ phải đi trước thị trường, đi trước cả sự hiểu biết của xã hội. Một đất nước muốn đi nhanh và đi xa thì phải có một lực lượng dám đi vào vùng chưa có bản đồ. Lực lượng đó chính là cộng đồng doanh nghiệp công nghệ Việt Nam.
Chúng ta sẽ cùng nhau nhìn xem thế giới đang đổi khác đến mức nào, Việt Nam đang đứng ở đâu, và các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam phải trở thành ai trong kỷ nguyên mới.
1. Thời đại đã thay đổi: công nghệ không còn là một ngành, mà là nền tảng cho mọi ngành
Trong nhiều năm, ta nói công nghệ thông tin, công nghệ số là một lĩnh vực. Giờ đây điều đó không còn đúng. Công nghệ đã trở thành hạ tầng của mọi hoạt động kinh tế – xã hội, giống như điện và đường. Nhiều người nói “AI là điện mới” để nhấn mạnh AI sẽ lan vào mọi ngành giống như điện.
Nhưng có một điểm còn quan trọng hơn: AI không chỉ tự động hóa công việc; AI đang tái định nghĩa cách tạo ra giá trị. Nó đưa thế giới từ kỷ nguyên “phần mềm theo lệnh” sang kỷ nguyên “phần mềm có tác nhân” – những AI agents có thể nhận mục tiêu rồi lập kế hoạch, phối hợp, tự kiểm tra, tự tối ưu, tự thực hiện nhiệm vụ. Đây là một cú đổi hệ điều hành.
Và khi hệ điều hành thay đổi, câu hỏi không phải là “ta có dùng AI không”, mà là “ta có tổ chức lại nền kinh tế theo AI không”.
2. Một số đặc điểm của kỷ nguyên AI
Tôi muốn chia sẻ ba đặc điểm mà tôi tin sẽ quyết định thắng thua của quốc gia và doanh nghiệp trong 5-10 năm tới.
Thứ nhất: Computing trở thành yếu tố sản xuất mới. Trong thời AI, GPU, trung tâm dữ liệu, điện năng và hạ tầng tính toán không chỉ là chi phí IT, mà là năng lực sản xuất. Quốc gia nào làm chủ computing, quốc gia đó có quyền tự chủ cao hơn trong đổi mới.
Thứ hai: AI vừa tạo năng suất, vừa tạo bất bình đẳng nếu không thiết kế lại thể chế. IMF cảnh báo AI có thể tác động khoảng 40% việc làm toàn cầu – có việc bị thay thế, có việc được bổ trợ, và khoảng cách có thể nới rộng nếu không có chính sách phù hợp. Nghĩa là: AI không tự tạo ra phồn vinh cho tất cả. Phồn vinh chỉ đến nếu chúng ta thiết kế đúng cách để mọi người, mọi doanh nghiệp đều tiếp cận được năng lực mới.
Thứ ba: Tốc độ trở thành lợi thế cạnh tranh số một. Trong kỷ nguyên AI, vòng đời công nghệ ngắn đến mức “đúng nhưng chậm” có thể thua “chưa hoàn hảo nhưng rất nhanh”. Doanh nghiệp, và cả nhà nước, phải học cách vận hành theo chu kỳ tuần – tháng thay vì quý – năm.
3. Công nghệ không tự tạo ra tăng trưởng, thay đổi vận hành mới tạo ra tăng trưởng
Công nghệ chưa bao giờ tự tạo ra tăng trưởng. Tăng trưởng chỉ xuất hiện khi công nghệ làm thay đổi vận hành.
Nếu có AI mà quy trình vẫn 5 bước, 7 chữ ký, 3 vòng xin – cho, thì AI chỉ làm nhanh hơn cái cũ.
Nếu có dữ liệu mà không liên thông, không chia sẻ, không chuẩn hóa, thì dữ liệu chỉ là kho chứa.
Nếu có 5G mà doanh nghiệp vẫn bán hàng, quản trị, sản xuất như cũ, thì 5G chỉ là đường rộng nhưng xe vẫn chạy chậm.
Vì vậy, nhiệm vụ của doanh nghiệp công nghệ Việt Nam không chỉ là làm sản phẩm. Nhiệm vụ lớn hơn là: giúp Việt Nam thiết kế lại cách vận hành của nền kinh tế. Điều này, chắc rất ít doanh nghiệp công nghệ nghĩ đến và coi đây là việc của mình, và nhất là coi đây là việc chính của mình. Nếu nhà nước và các doanh nghiệp không thấy lợi ích khi dùng công nghệ thì họ sẽ không mua. Lợi ích chỉ đến khi thay đổi vận hành, vậy thì chúng ta, doanh nghiệp công nghệ phải làm thêm việc thay đổi vận hành của các doanh nghiệp, tổ chức khác.
4. Việt Nam có cơ hội gì để tăng trưởng hai con số?
Tăng trưởng hai con số, khi GDP/người đã vượt 5.000 USD, không thể dựa vào mở rộng nữa. Nó phải dựa vào năng suất. Và năng suất trong thời đại này đến từ ba thứ: Kinh tế số – Dịch vụ số – Hạ tầng số tốc độ cao, cộng thêm một chất xúc tác rất mạnh là AI.
Tôi muốn đề nghị chúng ta cùng theo đuổi năm sứ mệnh thời đại cho doanh nghiệp công nghệ Việt Nam:
Sứ mệnh 1: Xây dựng các tiện ích số quốc gia (national digital stack)
Thế giới đang nói nhiều về “digital public infrastructure”. Việt Nam cũng cần một hạ tầng tiện ích số gồm: định danh, thanh toán, dữ liệu, chữ ký số, chia sẻ dữ liệu, cloud, an ninh mạng… để mọi doanh nghiệp có thể xây dịch vụ nhanh như lắp lego. Khi nền đã có, hàng triệu doanh nghiệp nhỏ mới có thể đứng trên vai hạ tầng số.
Sứ mệnh 2: “AI hóa” vận hành của khu vực công
Nhà nước sẽ phải trở thành khách hàng đầu tiên và lớn nhất của sản phẩm số Việt Nam. Ứng dụng AI trong hành chính công không chỉ để “tiện”, mà để giảm chi phí hệ thống, tăng chất lượng phục vụ, và quan trọng nhất: tạo thị trường ban đầu cho doanh nghiệp công nghệ Việt.
Sứ mệnh 3: “AI hóa” SMEs để nâng năng suất toàn nền
Nếu AI chỉ nằm ở các tập đoàn lớn, tăng trưởng sẽ không bền. Chúng ta cần đưa AI vào doanh nghiệp vừa, nhỏ, siêu nhỏ và các hộ kinh doanh, như đưa điện vào mọi nhà. Các nền tảng “AI-as-a-service”, “agent-as-a-service”, công cụ kế toán – bán hàng – tuyển dụng – CSKH thông minh… phải trở thành phổ cập.
Sứ mệnh 4: Xuất khẩu dịch vụ số và nền tảng số
Không chỉ xuất khẩu hàng hóa, Việt Nam phải xuất khẩu năng lực số, tức là các nền tảng số. Dịch vụ số, nền tảng số, phần mềm, an ninh mạng, AI ứng dụng theo ngành… phải trở thành một mũi nhọn. Chúng ta phải đặt mục tiêu “Make in Vietnam to Lead” và “Make in Vietnam to Go Global”.
Sứ mệnh 5: Xây hạ tầng computing xanh
AI sẽ kéo nhu cầu năng lượng và trung tâm dữ liệu tăng mạnh, và thế giới đang tranh luận gay gắt về tính bền vững của làn sóng data center.
Việt Nam có thể phát triển trung tâm dữ liệu gắn với năng lượng sạch, tối ưu hiệu suất, làm chủ công nghệ làm mát, và coi computing xanh là lợi thế cạnh tranh quốc gia. Bởi vậy, các data center của các doanh nghiệp phải xanh, tính đến cả có lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ (SMR) riêng cho các data center.
5. Nhà nước cam kết nhanh hơn, mở hơn, đặt hàng nhiều hơn
Nhà nước sẽ đồng hành theo ba hướng:
Một là, thể chế nhanh hơn thực tiễn. Chúng ta sẽ mở rộng sandbox, tăng hậu kiểm, giảm tiền kiểm, để doanh nghiệp được thử nhanh – sửa nhanh – nhân rộng nhanh.
Hai là, dữ liệu và thị trường mở hơn. Dữ liệu công phải trở thành tài nguyên sản xuất cho doanh nghiệp, theo nguyên tắc đúng – đủ – sạch – sống và an toàn.
Ba là, đặt hàng lớn hơn. Nhà nước sẽ chuyển từ “kêu gọi” sang “mua và dùng”. Khi Nhà nước dùng sản phẩm Việt Nam ở quy mô lớn, doanh nghiệp Việt Nam mới có cơ hội trưởng thành nhanh.
Thế giới đang bước vào một giai đoạn mà năng lực công nghệ quyết định vị thế quốc gia. AI sẽ tác động tới thị trường lao động rất lớn; cơ hội và thách thức đi cùng nhau.
Trong bối cảnh ấy, doanh nghiệp công nghệ không chỉ là doanh nghiệp. Doanh nghiệp công nghệ phải là một phần của “năng lực quốc gia”.
Tôi mong các doanh nghiệp giữ ba phẩm chất:
Dám nghĩ lớn: không chỉ làm sản phẩm, mà làm nền tảng, làm chuẩn, làm hệ sinh thái.
Dám đi nhanh: tốc độ là lợi thế chiến lược.
Dám đi cùng nhau: vì một doanh nghiệp không thể một mình làm nên sức mạnh công nghệ quốc gia.
Việt Nam muốn tăng trưởng hai chữ số thì phải thay đổi cách vận hành của cả nền kinh tế dựa trên công nghệ. Công nghệ là điều kiện cần. Thay đổi vận hành mới là điều kiện đủ. Và chính các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam là lực lượng có thể biến điều kiện đủ ấy thành hiện thực.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng
Nguồn: https://vnexpress.net/doanh-nghiep-cong-nghe-la-mot-phan-cua-nang-luc-quoc-gia-5046719.html

