Nhìn xa hơn, có thể coi năm qua là bước “chạy đà” cho cuộc đổi mới lần thứ 2 (Đổi mới 2.0) để đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên phồn vinh, thịnh vượng.
40 năm trước, Đại hội VI của Đảng (1986) đã khởi xướng công cuộc Đổi mới mà thực chất là một cuộc “cởi trói” vĩ đại, giải phóng sức sản xuất khỏi cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đưa đất nước thoát nghèo, người dân có đủ cơm ăn, áo mặc. Đất nước sau 40 năm đổi mới đã có được cơ đồ, vị thế chưa từng có.
Tuy nhiên, những dư địa của công cuộc đổi mới dần tới hạn. Những điểm nghẽn, nút thắt nội tại vẫn ngày một tích tụ, kìm hãm sự phát triển bứt phá của đất nước. Trong suốt nhiều nhiệm kỳ đại hội Đảng, thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực luôn được xác định là khâu đột phá chiến lược, song sự “đột phá” lại không rõ rệt trong khi “thế giới lại đang đi rất nhanh và rất xa”.

Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc khởi đầu cho kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Tổng Bí thư Tô Lâm, người đã khởi xướng những quyết sách lớn trong thời gian qua, hơn một lần thừa nhận còn quá nhiều những khó khăn, rào cản, những điểm nghẽn kìm hãm sự phát triển của đất nước, từ thể chế, hạ tầng cho tới nhân lực. Tổng Bí thư nhiều lần nhấn mạnh: thể chế chính là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Các quy định pháp luật nặng về quản lý, “xin – cho”, chồng chéo và thiếu minh bạch giống như những sợi dây chằng kéo cỗ xe đang chạy từ nhiều phía, khiến không ai biết phải thực hiện thế nào và cỗ xe cũng không thể đi đúng hướng.
Nguy cơ tụt hậu luôn chực chờ, đòi hỏi phải có một thiết kế mới, nền tảng mới cho kỷ nguyên mới của dân tộc, hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 như Đại hội XIII và XIV của Đảng xác định. Để làm được điều này, Việt Nam không thể chỉ tiếp tục “gia cố”, “sửa chữa” ngôi nhà cũ.
Tổng Bí thư Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh Đảng, Nhà nước xác định quyết tâm đổi mới tư duy lãnh đạo, điều hành, kiến tạo đất nước. Trong năm qua, cùng với tinh gọn bộ máy, sáp nhập tỉnh, thành, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, Bộ Chính trị đã ban hành loạt nghị quyết tạo đột phá trong các lĩnh vực then chốt, từ khoa học, công nghệ, xây dựng pháp luật, hội nhập quốc tế, tới phát triển kinh tế tư nhân, y tế, giáo dục, năng lượng… nhằm tiếp tục thúc đẩy đổi mới, đưa đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn.
Cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy
Từ đầu năm 2025, từ chủ trương tổng kết Nghị quyết 18 năm 2017 về sắp xếp, tinh gọn bộ máy, T.Ư Đảng và Bộ Chính trị đã tiến hành một cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, với quy mô và tốc độ chưa từng có. Tháng 3.2025, toàn bộ tổ chức, bộ máy của các cơ quan Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể cho tới tư pháp được sắp xếp lại theo hướng tinh gọn, gồm cả đầu mối và tổ chức bên trong. Riêng bộ máy Chính phủ đã giảm tới 5 bộ, cơ quan ngang bộ (tương ứng 22,7%) và 3 cơ quan trực thuộc (tương ứng 37,5%). Các ủy ban của Quốc hội cũng sáp nhập tới 4 đầu mối.
TS Trần Khắc Tâm, đại biểu Quốc hội khóa XIII
Ngay sau khi hoàn thành sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính, cả nước bước vào thực hiện sắp xếp tỉnh thành, kết thúc hoạt động cấp huyện, sắp xếp lại cấp xã. Từ 63 tỉnh thành, sau 1.7.2025, Việt Nam còn 34 tỉnh, thành, giảm 29 đơn vị hành chính cấp tỉnh và không còn cấp huyện. 34 tỉnh, thành phố cũng là số lượng đơn vị hành chính cấp tỉnh ít nhất của Việt Nam từ khi thành lập nước vào năm 1945 tới nay. Điều này khiến việc sáp nhập tỉnh thành trở thành một cuộc sắp xếp mang tính lịch sử với quy mô chưa từng có.
Chủ trương tinh gọn bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính đã được nghiên cứu từ lâu song tới năm cuối của nhiệm kỳ Đại hội XIII mới được thực hiện một cách thần tốc, từ trên xuống dưới. Điều này đã biến việc tinh gọn bộ máy, sáp nhập tỉnh, thành trở thành một cuộc đại cách mạng, sắp xếp lại giang sơn, thay đổi hoàn toàn tổ chức chính quyền địa phương và quản trị quốc gia, chứ không chỉ là sáp nhập cơ học đơn thuần.

Sau 40 năm đổi mới (1986 – 2026), Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa lịch sử của cuộc Đổi mới 2.0, đưa đất nước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới
Tác động của công cuộc tinh gọn bộ máy có thể thấy ngay và rất rõ. “Đây là một cải cách mà doanh nghiệp chờ đợi. Nó đồng nghĩa với việc cắt giảm một tầng nấc trung gian, giảm đầu mối xử lý thủ tục, làm rõ trách nhiệm giải trình và tăng tốc độ ra quyết định tại địa phương. Thời gian là vàng và một bộ máy tinh gọn chính là lợi thế cạnh tranh quốc gia lớn nhất trong kỷ nguyên số”, TS Trần Khắc Tâm, đại biểu Quốc hội khóa XIII, nhìn nhận.
Tuy nhiên, cuộc cải cách này cũng đặt ra những thách thức lớn về con người và sự ổn định. Khi thảo luận về công tác nhiệm kỳ tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV vừa qua, đại biểu Nguyễn Thị Mai Hoa (đoàn Đồng Tháp) nhìn nhận cuộc sắp xếp tổ chức bộ máy từ T.Ư đến địa phương diễn ra một cách “thần tốc” cho thấy ý chí, quyết tâm chính trị rất cao và sự đồng thuận rất lớn của người dân.
Cạnh đó, bà Hoa cũng chia sẻ: “Chúng ta làm một việc rất lớn, những thay đổi rất mạnh, chúng ta đang đứng trước một thời điểm có tính chất bản lề, chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, chắc chắn sẽ phải đối mặt với rất nhiều thách thức”. Vì thế, theo nữ đại biểu, những thách thức đặt ra cho giai đoạn mới cần được phân tích sâu hơn, kỹ hơn.
Đương nhiên, không có cuộc đại phẫu nào mà không đau đớn. Nhìn thấy khó khăn không phải để chùn bước mà để có những điều chỉnh phù hợp, hướng đến mục tiêu cuối cùng: bộ máy tinh gọn nhưng hiệu quả. Ban Chỉ đạo về sắp xếp tổ chức, bộ máy đã họp hằng tuần, đề ra những nhiệm vụ và thời hạn cụ thể với quyết tâm: dù khó khăn, nhưng đây là con đường không thể không đi.
Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần khẳng định mục tiêu cuối cùng của tinh gọn bộ máy không phải là cắt giảm cơ học, mà là nâng cao hiệu năng, hiệu quả. Tinh gọn để bộ máy hoạt động trơn tru, “ít người nhưng vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ”, hướng đến yêu cầu cao nhất là tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, giúp đất nước phát triển. Không có bộ máy gọn nhẹ, hiệu quả, đất nước không thể cất cánh.
“Bước nhảy lượng tử” về thể chế
Nếu việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy là phần “hạ tầng”, thì các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị ban hành cuối năm 2024 và năm 2025 chính là “phần hồn phách” của cuộc cách mạng thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo đột phá trong loạt lĩnh vực then chốt của đất nước. TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, nhìn nhận các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị không tồn tại riêng lẻ mà tạo thành một hệ sinh thái chính sách đồng bộ.
Theo ông Dũng, các nghị quyết chiến lược tạo nên một vòng tuần hoàn phát triển quốc gia rất rõ ràng: thể chế – công nghệ – doanh nghiệp – nguồn lực – hội nhập – quay lại thúc đẩy thể chế. Đây là cách tiếp cận hệ thống, có tính kiến trúc, khác biệt với phương thức làm chính sách từng phần trước đây.
Nếu Nghị quyết 66 giúp nâng chất lượng thể chế, tăng tính dự đoán, giảm rủi ro pháp lý; Nghị quyết 57 đưa khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành trụ cột thì Nghị quyết 68 tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân bứt phá…
“Sự kết nối này tạo nên một vòng tuần hoàn khép kín: thể chế tốt sinh ra doanh nghiệp mạnh; doanh nghiệp mạnh đòi hỏi thể chế tốt hơn. Chính vòng tuần hoàn này sẽ đưa Việt Nam bước vào quỹ đạo phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới”, TS Nguyễn Sĩ Dũng phân tích.
Các quyết sách của Đảng, Nhà nước vừa qua đang hướng đến một cuộc cải cách thể chế tổng thể. GS-TS Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu (ĐHQG Singapore), coi đây là cuộc Đổi mới 2.0 với nhận thức, tư duy cũng như chiến lược hành động được “nâng cấp”.
Theo ông, nếu 40 năm đổi mới vừa qua (1986 – 2026) chủ yếu dựa vào tư duy “cởi trói”, “tháo gỡ” để thoát nghèo thì Đổi mới 2.0 trong 2 thập niên tới cần một cuộc cải cách nhằm kiến tạo nền tảng thế chế cho một quốc gia hùng cường, một xã hội hiện đại, phồn vinh. Mục tiêu không chỉ là huy động nguồn lực, mà là “một sự trỗi dậy về tầm nhìn để phát huy sức mạnh tổng lực của cả dân tộc”.
GS Khương nhấn mạnh chúng ta cần thực hiện “bước nhảy lượng tử” từ phương thức quản lý hành chính sang mô hình quản trị quốc gia hiện đại. Đó phải là sự chuyển đổi về chất, vượt xa các cải tiến tuyến tính thông thường cả về tư duy và hành động.
Bên cạnh đó, GS Khương cho rằng cần phải xây dựng được nền công vụ ưu tú, đáp ứng yêu cầu phát triển quốc gia trong giai đoạn mới. Trong đó, trụ cột nền tảng là phải xây dựng hệ thống pháp lý minh bạch, dễ thực thi, đồng bộ và nhất quán, tiệm cận chuẩn mực toàn cầu.
Điều này sẽ tạo nền móng vững chắc cho quản trị hiện đại và sẵn sàng cho tương lai. “Cải cách thể chế chính là đòn bẩy chiến lược đưa Việt Nam lên quỹ đạo tăng trưởng cao và tiến nhanh tới phồn vinh, bền vững”, GS-TS Vũ Minh Khương khẳng định.
Khát vọng 2045 và lời thề danh dự
Đại hội XIV của Đảng được xác định là dấu mốc khởi đầu cho một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đại hội XIV tiếp tục đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên CNXH.
Trong diễn văn kỷ niệm 80 năm Quốc khánh (2.9.2025), Tổng Bí thư Tô Lâm gọi mục tiêu 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, là “khát vọng của cả dân tộc, là lời thề danh dự trước lịch sử, trước nhân dân”.
Nhưng khát vọng 2045 không phải là món quà có sẵn. Thế giới đang biến động khôn lường với các cuộc cách mạng công nghệ như vũ bão và sự đứt gãy của các chuỗi cung ứng. Cơ hội để Việt Nam bứt phá không kéo dài mãi.
“Lời thề danh dự” ấy đòi hỏi chúng ta không được phép chần chừ mà phải tiến nhanh, tiến mạnh hơn, bứt phá hơn. Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 của Ban Chỉ đạo T.Ư về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Tổng Bí thư Tô Lâm cho biết ngay sau Đại hội XIV, T.Ư Đảng sẽ ban hành 2 nghị quyết chiến lược về chuyển đổi mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ và nghị quyết về các giải pháp chiến lược huy động nguồn lực để tăng trưởng 2 con số.
Đây sẽ là hai vấn đề nền tảng và cốt lõi để phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn tới.
Hành trình 80 năm qua của Việt Nam đã chứng minh khi sức mạnh toàn dân tộc được giải phóng bởi tư duy tiên phong đổi mới, mục tiêu về một “Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc, sánh vai cùng các cường quốc năm châu” là hoàn toàn khả dĩ.
Đổi mới 2.0 với cốt lõi là cuộc cải cách thể chế toàn diện, đã bắt đầu từ hôm nay và là hành trình không thể đảo ngược để thực hiện mục tiêu đến 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam có thể hóa rồng.
Nguồn: https://thanhnien.vn/doi-moi-20-duong-bang-the-che-cho-ky-nguyen-vuon-minh-18526020111101994.htm

