Ngựa sắt biết bay, phun lửa trong truyền thuyết Thánh Gióng thể hiện sức mạnh, khát vọng chinh phục tự nhiên của người Việt cổ.
Trong 12 con giáp, mã (ngựa) có sự thống nhất giữa Việt Nam và nhiều quốc gia khác khi đều cùng chỉ một loài vật, khác với Mão (vốn là con mèo ở Việt Nam nhưng lại là thỏ tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản). Ngựa quen thuộc, xuất hiện nhiều trong đời sống văn hóa, văn học Việt với nhiều tầng ý nghĩa, biểu tượng.
Ngựa không chỉ là phương tiện giao thông phục vụ đời sống hàng ngày của người dân mà còn gắn với vai trò chiến đấu, cùng dũng tướng xông pha trận mạc, khi kỵ binh là lực lượng nòng cốt. Vì thế, nhiều con ngựa được phong chiến mã, gắn với biểu tượng về tốc độ, sức mạnh, lòng trung thành, công danh.
Ngoài ra, theo Tiến sĩ Chu Xuân Giao – Viện Nghiên cứu Văn hóa – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, biểu tượng ngựa là cầu nối giữa thế giới thực và thế giới tâm linh. Chẳng hạn, trong hệ thống thần linh Tam phủ, Tứ phủ, ngựa thờ đỏ được xem như một phương tiện hóa thân, chuyên chở thần lực siêu nhiên, đưa các vị Thánh từ cõi vô hình hiện diện trên trần gian.
Loài vật này cũng gần gũi, xuất hiện nhiều trong các trò chơi, lễ hội truyền thống. Ký ức tuổi thơ của không ít người có bài đồng dao “Chi chi chành chành/ Cái đanh thổi lửa/ Con ngựa chết trương/ Ba vương ngũ đế…”, hay câu hát “Nhong nhong ngựa ông đã về/ Cắt cỏ bồ đề cho ngựa ông ăn”. Hình ảnh ngựa cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều tranh vẽ, được lựa chọn trong các công trình kiến trúc đền, chùa, miếu.
Tác phẩm “Ông Gióng” của cố họa sĩ Ngô Mạnh Lân, được giới thiệu trong triển lãm chuyên đề Ngựa trong nghệ thuật tạo hình, diễn ra từ ngày 30/1 đến 1/3 tại bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Ảnh: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam
Trong văn hóa Việt Nam, ngựa chủ yếu mang màu sắc tươi sáng, gắn với mặt trời. Vì thế, năm Ngọ thường được kỳ vọng về sự cất bước, những chuyển đổi mang tính toàn diện – “ngựa phi nước đại”.
Sự hiện diện đa dạng của hình tượng con ngựa trong đời sống văn hóa, tâm linh cũng được phản ánh, khúc xạ vào những trang văn. Theo tiến sĩ Văn học Hà Thanh Vân, mỗi thời kỳ, văn học lại có những quan niệm và thi pháp khắc họa khác nhau.
Trong văn học dân gian, ngựa mang đậm màu sắc kỳ ảo, siêu nhiên như ngựa sắt Thánh Gióng biết bay, phun lửa. Nó được thần thánh hóa, biểu tượng cho sức mạnh quật khởi, ý chí bảo vệ cộng đồng và khát vọng chinh phục tự nhiên của người Việt cổ.
Thời phong kiến, hình tượng con ngựa bị gò bó vào những quy phạm nghệ thuật có tính ước lệ cao. Nó thường gắn liền với hình tượng người anh hùng, bậc quân tử theo lý tưởng trung quân báo quốc, da ngựa bọc thây… Đồng thời, ngựa cũng là ẩn dụ nghệ thuật để diễn tả cái trừu tượng, mượn tiếng vó ngựa để tả nỗi sầu ly biệt (Chinh phụ ngâm), mượn “bóng câu qua cửa sổ” mà than thở về kiếp người hữu hạn trước thời gian vô thủy vô chung. Hình ảnh con ngựa lúc này mang tính triết lý và âm hưởng buồn.
Trong văn học hiện đại, đặc biệt là văn học lãng mạn giai đoạn 1930-1945, ngựa trở thành biểu tượng của cái tôi tự do và tinh thần kiêu bạc. Những chú “ngựa hoang” trong tác phẩm Ngựa đã thuần rồi mời ngài lên của nhà văn Lê Văn Trương thể hiện khát vọng xê dịch, phá vỡ định kiến và sống đúng với bản ngã của con người.
Tiến sĩ Hà Thanh Vân cho rằng sự chuyển biến của hình tượng con ngựa chính là quá trình văn học Việt Nam bước ra từ những huyền thoại và chuẩn mực phong kiến để chạm chân xuống mặt đất của hiện thực đời sống đa chiều. Thay đổi này, trước hết bắt nguồn từ vai trò thực tế của ngựa, vốn được đề cao trong thời cổ – trung đại, trong chiến trường, giờ đây, suy giảm trước sự ra đời của vũ khí cơ giới.
Bà Vân đồng thời lý giải quá trình này cũng cho thấy sự vận động của tư duy con người – từ vô ngã, hòa mình vào cộng đồng xung quanh đến chỗ tự ý thức về bản thân. Khi hệ quy chiếu thay đổi, tư tưởng chuyển dịch, con ngựa không còn gánh vác sứ mệnh quốc gia mà chuyển sang chuyên chở nỗi niềm, khát vọng tự do cá nhân, những góc khuất tâm lý của con người thời đại mới.
Vì thế, nghệ thuật miêu tả ngựa cũng chuyển từ bút pháp thần thoại, ước lệ tượng trưng sang tả thực và tâm lý hóa. Các nhà văn hiện đại nhìn ngựa và con người bằng con mắt đời thường, đi sâu vào những thân phận và nỗi đau, không còn nói đạo lý hay tạo vẻ anh hùng.
Dẫu vậy, cách quan niệm về ngựa của phương Đông vẫn nổi bật với việc xem đây là một phần của “trật tự vũ trụ và đạo lý” với thiên mệnh, đức trị, chiến công, con đường. Điều này khác với Phương Tây xem ngựa như cỗ máy của cá nhân và huyền thoại như trong thần thoại Hy Lạp (ngựa có cánh Pegasus đại diện cho thi ca và sự thăng hoa của trí tuệ), tinh thần hiệp sĩ (Don Quixote – Miguel de Cervantes), tự do (những bầy ngựa hoang Mustang).
Khánh Linh
Nguồn: https://vnexpress.net/hinh-tuong-ngua-khat-vong-va-suc-manh-trong-van-hoa-viet-5040828.html

