Trong xã hội Việt Nam xưa, việc không gọi thẳng tên là một cách thể hiện lòng kính trọng, nhất là ở cung đình.
Nội dung được đề cập trong sách Họ và tên – Một lịch sử nhìn từ danh tính người Việt của nhà nghiên cứu Trần Quang Đức, ra mắt hôm 15/1. Trong sách, tác giả hệ thống quá trình phát triển họ, tên người Việt, gắn với những biến động chính trị của các triều đại, làn sóng văn hóa và lựa chọn của mỗi cá nhân.
Dịp này, VnExpress đăng một số trích đoạn, tên các phần do tòa soạn đặt.
Từ việc đặt quấy quá lấy cái tên Nôm dung dị, thậm chí vô nghĩa, để tránh quỷ tha ma bắt, tới việc lựa chọn chữ nghĩa cầu kỳ, gửi gắm lên con trẻ những ước vọng, ký thác sâu xa, đó là cả một chặng phát triển dài, lưu lại dấu ấn của những vận động tinh thần, chuyển biến trong nhận thức xã hội. Sau này việc đặt tên diễn tiến tới thiêng hóa căn cước, coi tính danh là dấu ấn thiêng liêng cần được tôn trọng tuyệt đối, đặc biệt với những người có chức trọng quyền cao. Cái tên vốn là thứ công khai, cuối cùng lại phát triển thành điều thầm kín, được phủ lên màu sắc tôn nghiêm, được đưa vào phạm trù lễ nghi tôn giáo. Đến mức ngay giữa những nhà nho là cha con, anh em ruột, nhiều khi còn chẳng nỡ phạm đến tên nhau.
Kính dĩ bất danh, không gọi thẳng tên là một cách bày tỏ lòng kính trọng, từng là nhận thức chung của xã hội chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo, đặc biệt ở chốn cung đình. Đối với các đại thần có uy vọng trong triều, ngay vị quân vương cũng không nỡ gọi tới húy danh. Có khi xuất phát từ lòng tự nguyện như Trần Anh Tông, tránh gọi tên Thiếu bảo Đinh Củng Viên, Trần Dụ Tông thay vì xướng đích danh, gọi Trương Hán Siêu là thầy. Chúa Trịnh Sâm đặc cách gọi đại thần Nguyễn Viện là quốc sư, danh tướng Hoàng Ngũ Phúc là quốc lão. Vua Thiệu Trị chỉ gọi các đại thần Trương Đăng Quế, Võ Xuân Cẩn bằng chức danh. Cũng có khi vị vua ở vào thế chẳng đặng đừng, phải miễn cho quyền thần mọi lễ tiết vái lạy, xưng tên. Đó là trường hợp chúa Trịnh Căn, Trịnh Cương và Trịnh Giang, tự cho mình được hưởng đặc quyền “bất danh bất bái”, ép vua Lê thuận theo, như một cách khẳng định uy quyền lấn át của nhà chúa.
Sách do Nhà xuất bản Thế giới xuất bản, Nhã Nam phát hành. Ảnh: Nhã Nam
Ở bình diện khác, một khi đã lớn giọng gọi thẳng tên trần trụi không có bất kỳ danh hiệu nào trang sức, đồng nghĩa với thái độ thẳng thừng, không còn khách sáo, sẵn sàng hạ bệ đối phương. Như câu chuyện diễn ra vào tháng Giêng năm 1237, sau mười hai năm ở ngôi, Trần Cảnh hai mươi tuổi vẫn chưa có con, nghe theo kế hoạch của người chú họ Trần Thủ Độ, đón chị dâu đang mang thai ba tháng về lập hoàng hậu. Mục đích nhằm tránh sự nhòm ngó cùng lời bàn liên quan tới khả năng sinh sản của nhà vua, một trong nguy cơ có thể đảo lộn vương quyền.
Trần Liễu không nén nổi cơn giận, lập tức dấy quân nổi loạn. Tuy nhiên sau hai mươi ngày tự lượng thân cô thế cô, không thể đối đầu với lực lượng quân sự do Trần Thủ Độ điều binh khiển tướng, liền giả dạng dân chài, ngầm đi thuyền độc mộc tới gặp riêng em trai xin hàng. Hai anh em cứ vậy trân trân nhìn nhau khóc. Trần Thủ Độ nghe tin lao thẳng tới thuyền vua, rút kiếm dữ giọng quát: ”Giết giặc Liễu!”. Trần Cảnh để Trần Liễu núp trong khoang thuyền, lấy thân mình che chở cho anh, ngăn người chú lại nói: “Phụng Càn vương đến xin hàng thôi!”. Trong khi người chú nổi giận réo đích danh, người em vẫn dùng tên tước phong để gọi anh trai mình, thể hiện hai thái độ và hai cách ứng xử hoàn toàn trái ngược.
Kết cục câu chuyện ra sao? Trần Cảnh hòa giải đôi bên, đồng thời đem năm vùng đất phong cho người anh kèm theo tên hiệu mới An Sinh vương, như một lời chúc, mong người anh sinh sống yên ổn. Dĩ nhiên, ông vẫn lấy vợ của anh ruột mình, theo kế hoạch từ đầu của người chú họ. Còn người anh vẫn ôm lòng ấm ức đến tận lúc lâm chung, không quên căn dặn con trai là Trần Quốc Tuấn: lấy lại thiên hạ cho bố, bố chết mới nhắm mắt!.
Nguồn: https://vnexpress.net/ho-va-ten-ky-mot-tuc-kieng-huy-cua-nguoi-viet-xua-5006573.html

