Kỳ thi vào lớp 10 và thi tốt nghiệp THPT sắp đến. Nhìn lại năm 2025, chúng ta không khỏi giật mình vì sự sụt giảm mạnh mẽ về số lượng thí sinh đăng ký dự thi các môn Khoa học tự nhiên trong kỳ thi tốt nghiệp THPT cùng năm.
Vấn đề này không nên chỉ được nhìn nhận như một hiện tượng nhất thời. Đó là một chỉ báo quan trọng, buộc chúng ta phải nhìn lại toàn bộ chuỗi mắt xích giáo dục, từ định hướng chọn môn ở bậc phổ thông, áp lực thi cử ở bậc trung học cơ sở, cho đến chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia trong kỷ nguyên công nghệ.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025 đánh dấu một cột mốc đặc biệt: Lứa học sinh đầu tiên hoàn thành 12 năm học tập và bước vào kỳ thi theo Chương trình Giáo dục phổ thông (GDPT) 2018. Khái niệm “bài thi tổ hợp” cứng nhắc được gỡ bỏ, nhường chỗ cho quyền tự do lựa chọn môn thi của thí sinh. Thế nhưng, bức tranh số liệu lại mang đến một thực trạng đáng suy ngẫm về sự mất cân đối sâu sắc giữa các nhóm lĩnh vực học thuật.
Sự thật từ các con số
Nhìn lại giai đoạn 2020 – 2024, khi học sinh còn phải chọn một trong hai bài thi tổ hợp, cán cân vốn đã luôn nghiêng về phía khoa học xã hội (KHXH) với tỷ lệ dao động đều quanh mức 55%, trong khi khoa học tự nhiên (KHTN) chỉ ngậm ngùi ở mức trên 30%. Tuy nhiên, đến năm 2025, khi quyền tự quyết được trao hoàn toàn vào tay các em, sự chênh lệch này mới thực sự lộ rõ sự cực đoan.
Theo thống kê sơ bộ của năm bản lề này, các môn thuộc nhóm KHXH chứng kiến sự bùng nổ. Lịch sử và Địa lý vươn lên dẫn đầu với tỷ lệ thí sinh lựa chọn đạt mức trên 42%. Ở chiều ngược lại, các môn khoa học tự nhiên lại ghi nhận sự sụt giảm đến mức chạnh lòng. Vật lý chỉ còn khoảng 30,4%, Hóa học lùi về 21,2%, và đáng báo động nhất là Sinh học – môn khoa học sự sống nền tảng – rớt xuống chỉ còn hơn 6%. Các môn học mang hơi thở của thời đại công nghiệp 4.0 như Tin học hay Công nghệ thậm chí chưa chạm tới mốc 1%.
Tỉ lệ phần trăm học sinh chọn các môn thi tốt nghiệp THPT năm 2025, Ngữ văn và Toán là môn bắt buộc nhưng vẫn không đủ 100% là do có lượng thí sinh tự do chỉ cần thi các môn tổ hợp để xét vào đại học (Dữ liệu tác giả ước tính dựa trên số liệu chính thức của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho năm học 2025, tổng số thí sinh 1.165.289, tỷ lệ được làm tròn).
Từ góc độ tâm lý học sinh và phụ huynh, sự lựa chọn này là hoàn toàn dễ hiểu và mang đậm tính chiến thuật. Đứng trước một kỳ thi mang tính quyết định, tâm lý “tìm bến đỗ an toàn” là điều tất yếu. Các môn khoa học tự nhiên đòi hỏi tư duy logic cao, năng lực tính toán phức tạp và đặc biệt là sự tích lũy kiến thức liền mạch qua nhiều năm. Trong khi đó, các môn khoa học xã hội, dẫu cần sự am hiểu xã hội và năng lực ghi nhớ khối lượng dữ kiện lớn, lại thường được đánh giá là dễ đạt ngưỡng điểm “an toàn” để xét công nhận tốt nghiệp.
Hiệu ứng từ môn Lịch sử trong Chương trình 2018
Bên cạnh yếu tố chiến thuật thi cử, sự lệch pha này còn chịu tác động không nhỏ từ chính cấu trúc của Chương trình GDPT 2018. Theo quy định hiện hành, Lịch sử là một trong những môn học bắt buộc ở bậc THPT. Việc đưa Lịch sử trở thành môn học cốt lõi là một quyết sách có tính “chính sách” nhiều hơn là yếu tố chuyên môn của chương trình. Môn Lịch sử trở thành môn bắt buộc khiến cán cân nghiêng hẳn về khối KHXH, điều này vô tình tạo ra một “lực hút” mạnh mẽ về phía khối xã hội.
Khi học sinh đằng nào cũng phải đầu tư thời gian, tâm sức để học và ôn tập môn Lịch sử trên lớp, các em có xu hướng tự nhiên là chọn thêm Địa lý hoặc Giáo dục Kinh tế và Pháp luật để tạo thành một nhóm môn thi liền mạch về mặt phương pháp tư duy. Việc tận dụng lợi thế môn bắt buộc để tối ưu hóa thời gian ôn tập đã khiến các môn Vật lý, Hóa học bị gạt ra khỏi phương án lựa chọn ưu tiên, làm gia tăng tình trạng “học lệch” ngay từ những năm đầu cấp ba.
Điểm đứt gãy từ bậc Trung học cơ sở
Dẫu vậy, nếu chỉ quy trách nhiệm cho cấu trúc kỳ thi THPT hay Chương trình 2018 thì chúng ta mới chỉ nhìn thấy phần ngọn của vấn đề. Rễ sâu của hiện trạng học sinh “sợ” và “né” Khoa học tự nhiên thực chất đã được cắm sâu từ những năm tháng các em còn ngồi trên ghế trường Trung học cơ sở (THCS).
Hãy nhìn vào thực tế kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 – kỳ thi vốn được nhiều phụ huynh và học sinh đánh giá là khốc liệt và áp lực hơn cả thi đại học. Tại đại đa số các tỉnh thành trên cả nước, phương thức tuyển sinh vào lớp 10 nhiều năm qua hầu như chỉ tập trung vào ba môn cốt lõi: Toán, Ngữ văn và Ngoại ngữ. Các môn khoa học tự nhiên như Vật lý, Hóa học, Sinh học gần như vắng bóng trong các kỳ thi chuyển cấp mang tính quyết định này.
Hậu quả tất yếu của cơ chế thi cử này là sự phân bổ thời gian và sự quan tâm của học sinh bị lệch chuẩn ngay từ năm lớp 8, lớp 9. Mang tâm lý “thi gì học nấy”, đa phần học sinh dồn toàn lực vào ba môn thi chính, trong khi các môn KHTN bị xem nhẹ, chỉ học mang tính đối phó để đủ điểm tổng kết. Chính sự xao nhãng ở những năm cuối cấp hai đã tạo ra một “lỗ hổng” kiến thức nền tảng khổng lồ.
Khi bước chân vào lớp 10, phải đối mặt với kiến thức KHTN chuyên sâu và phức tạp hơn, nhiều em lập tức rơi vào trạng thái “sốc”, đuối sức và nảy sinh tâm lý e ngại. Do đó, khi được nhà trường cho phép chọn tổ hợp môn học theo Chương trình GDPT 2018 ở đầu năm lớp 10, phần đông học sinh đã tự động loại bỏ các môn Khoa học tự nhiên để chọn khối Xã hội, như một cách lẩn tránh những lỗ hổng kiến thức từ bậc THCS. Điểm đứt gãy này cũng là nguyên nhân khiến nguồn tuyển sinh cho các khối ngành kỹ thuật, y dược bị thu hẹp từ rất sớm.
Một nhóm học sinh trước kỳ thi Tốt nghiệp THPT (Ảnh tư liệu: Nam Anh).
Hội chứng “đường ống rò rỉ” và tầm nhìn toàn cầu
Thực tế, sự xa lánh các môn học khoa học cơ bản không phải là câu chuyện đặc thù của riêng giáo dục Việt Nam. Trên bình diện quốc tế, các chuyên gia giáo dục thường dùng thuật ngữ “Đường ống STEM bị rò rỉ” (STEM là các môn Khoa học – Công nghệ – Kỹ thuật – Toán học) để chỉ hiện tượng học sinh rơi rụng dần khỏi các ngành Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học trong suốt quá trình trưởng thành. Đây chính là lý do để các chính sách về giáo dục STEM ra đời từ những năm 2000, đặc biệt là tại Mỹ.
Tại nhiều quốc gia phát triển như Mỹ, Anh hay Australia, các báo cáo phân tích giáo dục cũng chỉ ra một xu hướng tương tự: giới trẻ ngày càng ưu tiên các ngành kinh tế, quản trị, truyền thông hay nghệ thuật. Đây là những lĩnh vực được đánh giá là linh hoạt, có vẻ ngoài hào nhoáng và có con đường học thuật ít chông gai hơn so với việc giam mình trong phòng thí nghiệm hóa chất hay giải các phương trình vật lý vĩ mô.
Tuy nhiên, đối với một quốc gia đang trong giai đoạn vàng của phát triển, nuôi khát vọng công nghiệp hóa và xây dựng nền kinh tế số như Việt Nam, chúng ta không thể cho phép sự “rò rỉ” này tiếp diễn. Nếu thiếu hụt đi những người trẻ say mê nghiên cứu Vật lý, Hóa học, Sinh học hôm nay, chúng ta sẽ lấy đâu ra thế hệ kỹ sư công nghệ bán dẫn, chuyên gia trí tuệ nhân tạo, bác sĩ hay các nhà nông nghiệp công nghệ cao trong 10 đến 20 năm tới? Sự mất cân bằng môn học ở bậc phổ thông hôm nay chính là lời cảnh báo cho cuộc khủng hoảng thiếu hụt nhân lực chất lượng cao trong tương lai gần.
Nuôi dưỡng tình yêu khoa học qua Giáo dục STEM
Để giải bài toán này, việc dùng các biện pháp hành chính ép buộc học sinh chọn lại các môn Khoa học tự nhiên là điều phi thực tế và đi ngược lại tinh thần giáo dục mở. Thay vào đó, chúng ta cần thay đổi cách tiếp cận: không làm cho các môn học này trở nên dễ dãi hơn, mà phải làm cho chúng trở nên hấp dẫn, sinh động và gắn liền với thực tiễn hơn. Chìa khóa cho sự chuyển đổi này chính là giáo dục STEM, và tiến trình này phải được đẩy mạnh mẽ ngay từ bậc Tiểu học và đặc biệt là THCS, trước khi các em bước vào giai đoạn quyết định định hướng nghề nghiệp.
Thời gian qua, giáo dục STEM tại Việt Nam không còn là một khái niệm nằm trên giấy, mà đã được thắp lên bởi những cá nhân và tổ chức đầy tâm huyết. Tiêu biểu phải kể đến sự nỗ lực bền bỉ của Liên minh STEM với sự tiên phong của kỹ sư Đỗ Hoàng Sơn. Bằng những chuyến đi không mệt mỏi, ông và các cộng sự đã mang hàng vạn cuốn sách khoa học, hàng ngàn bộ học cụ robot đến với học sinh ở các vùng nông thôn, miền núi, chứng minh rằng tư duy khoa học có thể được ươm mầm ở bất cứ đâu.
Tuy nhiên, những nỗ lực từ cơ sở hay các chuyên gia độc lập sẽ khó tạo thành một cú hích mang tính hệ thống nếu thiếu đi sự chung tay của các nguồn lực vĩ mô. Rất đáng mừng khi nhận thức được vai trò cốt lõi của lực lượng lao động STEM, các tập đoàn kinh tế lớn đã bắt đầu hành động. Và không dừng lại ở những chương trình tài trợ thông thường, có tập đoàn đã có những bước đi chiến lược trong việc hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất, trang bị các phòng học STEM tiên tiến, mang máy in 3D, thiết bị lập trình và robot đến gần hơn với học sinh phổ thông. Sự đầu tư của các tập đoàn không chỉ giải quyết bài toán thiếu thốn thiết bị thực hành mà còn truyền đi thông điệp mạnh mẽ đến giới trẻ: Cơ hội nghề nghiệp đỉnh cao luôn rộng mở cho những ai theo đuổi con đường khoa học.
Sự dịch chuyển của học sinh ra khỏi các môn khoa học tự nhiên là một phản ứng tự nhiên trước những bất cập của thi cử và phương pháp giảng dạy. Để kéo các em trở lại, chúng ta không chỉ cần một vài phòng thí nghiệm mới hay vài tiết học ngoại khóa, mà phải xây dựng thành công một “Hệ sinh thái giáo dục STEM” hoàn chỉnh và bền vững.
Trong hệ sinh thái ấy, trường học cấp THCS phải là nơi ươm mầm tò mò thay vì chỉ luyện thi Toán – Văn – Anh; trường THPT là nơi nuôi dưỡng đam mê; các viện nghiên cứu, trường đại học là những người dẫn dắt chuyên môn; và các tập đoàn công nghiệp là những người cung cấp nguồn lực và định hướng đầu ra.
Chỉ khi có sự gắn kết chặt chẽ của toàn bộ hệ sinh thái này, những môn học như Vật lý, Hóa học hay Sinh học mới thực sự bước ra khỏi những trang sách giáo khoa, trở thành lăng kính để thế hệ trẻ Việt Nam tự tin chinh phục thế giới công nghệ, đảm bảo một nguồn nhân lực vững chắc cho tương lai đất nước.
Tác giả: TS. Đặng Văn Sơn là Nghiên cứu viên trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Ngoài nghiên cứu khoa học, ông hoạt động tích cực trong việc phổ biến giáo dục STEM cho học sinh phổ thông và là nhà sáng lập của Học viện Sáng tạo S3.
Ông là người sáng lập các hoạt động cộng đồng về giáo dục STEM như: Chuỗi Ngày hội STEM quốc gia từ 2015, Mạng lưới Đại sứ STEM 2020, và hàng loạt các dự án hỗ trợ giáo dục STEM cho các trường phổ thông với sự tài trợ của các tổ chức và cá nhân.
Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!
Nguồn: https://dantri.com.vn/tam-diem/khi-da-so-hoc-sinh-quay-lung-voi-khoa-hoc-tu-nhien-20260322184649345.htm

