Kỳ họp đầu tiên của Quốc hội Việt Nam diễn ra trong 4 giờ, được triệu tập sau Tổng tuyển cử 6/1/1946, trong bối cảnh đất nước đối mặt nhiều sức ép về quân sự, chính trị và đối ngoại.
Sau Cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố độc lập nhưng chưa được các cường quốc quốc tế công nhận rộng rãi. Ở phía Nam, quân Pháp nổ súng tái chiếm Sài Gòn từ ngày 23/9/1945, sau đó mở rộng chiến sự ra Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Ở phía Bắc, quân Tưởng Giới Thạch vẫn đóng từ vĩ tuyến 16 trở ra với danh nghĩa giải giáp quân Nhật.
Cùng thời điểm đó, các cuộc thương lượng giữa Pháp và quân Tưởng về việc đưa quân Pháp ra miền Bắc được xúc tiến, đặt ra nguy cơ trực tiếp đối với chủ quyền của chính quyền mới thành lập.
Trong nước, nền kinh tế chịu hậu quả nặng nề của nạn đói năm 1945, ngân khố gần như trống rỗng, hơn 90% dân số mù chữ. Trên mặt trận chính trị, Việt Quốc và Việt Cách gia tăng hoạt động, phủ nhận kết quả Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 và yêu cầu thành lập Chính phủ mới khi Quốc hội chưa họp phiên đầu tiên.
Trong bối cảnh đó, Quốc hội khóa 1 được triệu tập kỳ họp đầu tiên với thời lượng 4 giờ, nhằm giải quyết các vấn đề cấp thiết về tổ chức bộ máy nhà nước sau Tổng tuyển cử.
Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 1, Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Tổng tuyển cử. Ảnh tư liệu
Theo cuốn sách Lịch sử Quốc hội Việt Nam của Nhà xuất bản Chính trị, nếu Quốc hội không họp, chính quyền cách mạng thiếu cơ sở pháp lý để tồn tại và hành động. Nếu Quốc hội họp trong chia rẽ, nguy cơ khủng hoảng chính trị sẽ bị đẩy lên đỉnh điểm. Mỗi bước đi đều phải cân nhắc giữa nguyên tắc dân chủ và yêu cầu sinh tồn của quốc gia.
Sáng 2/3/1946, kỳ họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Gần 300 đại biểu từ các vùng miền tham dự. Một số đại biểu Nam Bộ và Nam Trung Bộ chưa thể có mặt do chiến sự; một số khác vắng mặt vì đang trực tiếp chỉ đạo kháng chiến tại địa phương.
Hội trường được trang trí với quốc kỳ ở chính giữa diễn đàn, hai bên treo cờ các đảng phái tham gia Chính phủ liên hiệp, phía trên là khẩu hiệu “Kháng chiến – Kiến quốc”. Khoảng 8h40, Chủ tịch Hồ Chí Minh vào hội trường. Khi kỳ họp chính thức khai mạc, Người phát biểu nêu ý nghĩa của cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946, khẳng định Quốc hội được thành lập trên cơ sở ý chí và sự tham gia của toàn dân.
Đến 9h, các thành viên Chính phủ liên hiệp lâm thời lên diễn đàn. Quốc ca “Tiến quân ca” và nhạc “Hồn tử sĩ” được cử lên. Nhân danh Chính phủ liên hiệp lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố khai mạc kỳ họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Mở đầu báo cáo trước Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ ý nghĩa thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1 đã “tỏ cho thế giới, cho toàn dân biết là chúng ta đoàn kết nhất trí”. Người đề nghị với Quốc hội mở rộng đại biểu ra thêm 70 người nữa, dành cho chí sĩ, trí thức hải ngoại về.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét “các đại biểu trong Quốc hội này không phải đại diện cho một Đảng phái nào mà là đại biểu cho toàn thể quốc dân Việt Nam. Đó là một sự đoàn kết tỏ ra rằng lực lượng của toàn dân Việt Nam đã kết lại thành một khối”.
Ngay tại kỳ họp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng báo cáo những công việc Chính phủ liên hiệp lâm thời đã làm trong 6 tháng qua, là ra sức kháng chiến; giảm bớt sự đói kém bằng cách thực hành tăng gia sản xuất; tổ chức cuộc Tổng tuyển cử. Đồng thời, Chính phủ cũng thừa nhận trước Quốc Hội là còn nhiều việc lớn lao hơn nữa nên làm, nhưng vì hoàn cảnh khó khăn nên Chính phủ chưa làm hết.
Thay mặt Chính phủ cũ, Chủ tịch Hồ Chí Minh hứa với Quốc hội, với Chính phủ mới và quốc dân sẽ “hết sức đem tài năng cống hiến cho Tổ quốc”. Do tình hình đặc biệt, Người đề nghị Quốc hội làm việc mau chóng và tuyên bố Chính phủ liên hiệp lâm thời xin trao quyền lại cho Quốc Hội để tổ chức một Chính phủ mới.
Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến ra mắt Quốc hội ngày 2/3/1946. Ảnh tư liệu
Thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến chính thức
Tại kỳ họp đầu tiên, Quốc hội quyết định thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến chính thức. Danh sách Chính phủ được trình bày và thông qua ngay trong buổi sáng.
Theo cơ cấu được công bố, các bộ quan trọng như Nội vụ, Quốc phòng do các nhân sĩ không thuộc đảng phái đảm nhiệm. Các bộ khác được phân công cho đại diện của nhiều đảng phái khác nhau tham gia Chính phủ.
Chính phủ liên hiệp kháng chiến được thành lập với thành phần gồm đại diện nhiều lực lượng chính trị, nhằm tổ chức bộ máy điều hành nhà nước trong bối cảnh đất nước đang đối mặt với chiến tranh và nhiều khó khăn sau khi giành độc lập.
Thành phần Chính phủ liên hiệp kháng chiến gồm Chủ tịch Hồ Chí Minh; Phó chủ tịch Nguyễn Hải Thần. Các Bộ trưởng gồm: Ngoại giao Nguyễn Tường Tam; Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng; Kinh tế Chu Bá Phượng; Tài chính Lê Văn Hiến; Quốc phòng Phan Anh; Xã hội kiêm Y tế, Cứu quốc và Lao động Trương Đình Tri; Giáo dục Đặng Thai Mai; Tư pháp Vũ Đình Hòe; Giao thông Công chính Trần Đăng Khoa; Canh nông Bồ Xuân Luật.
Cố vấn đoàn do cố vấn tối cao Vĩnh Thụy đảm nhiệm. Kháng chiến Ủy viên hội do Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch và Vũ Hồng Khanh làm Phó chủ tịch.
Sau đó ông Nguyễn Đình Thi đại diện Quốc hội đọc lời chào mừng Chính phủ mới. Quốc hội Việt Nam nhấn mạnh: Đứng trước tình thế nước nhà đang bị thực dân Pháp xâm lăng, cần phải thống nhất tất cả lực lượng của toàn thể dân tộc, và cần phải có một cơ quan điều khiển mạnh mẽ để kháng chiến đến đắc thắng. Trên cơ sở đó, Quốc hội quyết định công nhận Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu và trao quyền điều hành cho Chính phủ này.
Quốc hội đã thảo luận sôi nổi về việc lập Ban Thường trực để thay mặt Quốc hội gồm 15 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết. Trưởng ban là ông Nguyễn Văn Tố, Phó trưởng ban là ông Phạm Văn Đồng, Cung Đình Quỳ. Các Uỷ viên chính thức gồm Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Chi, Dương Văn Dư, Hoàng Văn Đức, Xuân Thủy, Trịnh Quốc Quang, Đàm Quang Thiện, Nguyễn Tấn Trọng, Nguyễn Tri, Lê Thị Xuyến, Hoàng Minh Giám, Dương Đức Hiền…
Quốc hội cũng thảo luận nhiệm vụ và bầu Ban dự thảo Hiến pháp. Nhiệm vụ của ban là dự thảo bản Hiến pháp; nghiên cứu đề xuất lựa chọn Quốc kỳ và Quốc ca. Trong lúc chờ đợi, lá cờ đỏ sao vàng tiếp tục là Quốc kỳ và Quốc ca là bài Tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao.
13 giờ 10 phút, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội bế mạc. “Bây giờ Quốc hội tạm thời bế mạc để cho tất cả anh em chúng ta đem một không khí đoàn kết, một cái không khí kháng chiến, một cái không khí kiên quyết, một cái không khí nhất định thành công về các địa phương và công tác”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Quốc hội thành lập sau Tổng tuyển cử. Ảnh tư liệu
Tổng thời gian làm việc của kỳ họp chỉ khoảng 4 giờ, không có các phiên thảo luận kéo dài hay chương trình nghị sự lớn. Trong thời gian này, Quốc hội đã quyết định những nội dung trọng yếu, gồm việc trao quyền cho Chính phủ liên hiệp kháng chiến, thiết lập cơ chế giám sát quyền lực và xác lập nguyên tắc thực hành dân chủ trong bối cảnh chiến tranh cận kề.
Báo Sự Thật, số ra ngày 5/3/1946, so sánh kỳ họp với Hội nghị Diên Hồng thời Trần, cho rằng hơn 600 năm trước, một hội nghị họp khẩn đã dẫn tới việc đánh bại 50 vạn quân Mông Cổ xâm lược. Tờ báo viết, Quốc hội cũng họp cấp tốc, với gần 300 đại biểu từ các địa phương về Thủ đô, thay mặt nhân dân cả nước thống nhất ý chí chiến đấu.
“Các đại biểu đã chia tay nhau đem về địa phương lòng quyết chiến của toàn dân, lòng tin tưởng ở vị lãnh tụ tối cao và ở tương lai độc lập tự do của giống nòi. Chính phủ, Quốc hội, nhân dân trên dưới một lòng quyết chiến và quyết thắng”, bài báo nêu.
Quốc hội khóa 1 có nhiệm kỳ kéo dài hơn 14 năm, tổ chức 12 kỳ họp từ năm 1946 đến 1960, trong bối cảnh cả nước vừa tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp, vừa thực hiện cải cách dân chủ. Trong thời gian này, Quốc hội tham gia quyết định nhiều vấn đề lớn liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước, kháng chiến và xây dựng miền Bắc sau năm 1954.
Trong nhiệm kỳ, Quốc hội khóa 1 đã thông qua 2 bản Hiến pháp và 16 luật, gồm Luật Lao động; Luật Cải cách ruộng đất; Luật Công đoàn; Luật Quy định những trường hợp phạm pháp quả tang và những trường hợp khẩn cấp; Luật Cấm chỉ mọi hành động đầu cơ về kinh tế; Luật Quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp; Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Luật Quy định chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam; Luật bầu cử đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Nghĩa vụ quân sự.
Sơn Hà
*Bài viết sử dụng tư liệu từ Sách Lịch sử Quốc hội Việt Nam Tập 1, Tập 2 của Nhà xuất bản Chính trị; Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề: “Quốc hội Việt Nam – 80 năm hình thành và phát triển”.
Nguồn: https://vnexpress.net/ky-hop-keo-dai-4-gio-cua-quoc-hoi-khoa-1-5000169.html

