Doanh nghiệp nhà nước được “trao” thêm vốn, mở thêm cơ chế
Ngày 6/1, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Nghị quyết số 79 về phát triển kinh tế Nhà nước. Văn bản này khẳng định nền tảng của kinh tế Nhà nước bao gồm các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối hoạt động, từ đất đai, tài nguyên, kết cấu hạ tầng đến vốn Nhà nước tại doanh nghiệp.
Theo quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị, kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế, là nguồn lực quan trọng để Nhà nước ổn định vĩ mô, định hướng phát triển, can thiệp khi cần thiết. Song khu vực này cũng bình đẳng trước pháp luật với các khu vực kinh tế khác, cùng hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.
Sau gần 40 năm Đổi mới, khu vực này tiếp tục giữ vai trò định hướng, dẫn dắt và điều tiết nền kinh tế.
Tuy nhiên, theo Bộ Chính trị, chính sách về kinh tế nhà nước chậm đổi mới, trong khi việc quản lý, khai thác và sử dụng nhiều nguồn lực, tài sản của Nhà nước chưa thực sự hiệu quả. Các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động chưa tương xứng với vị trí, nguồn lực đang nắm giữ, năng lực cạnh tranh quốc tế hạn chế. Một số tồn tại, vướng mắc kéo dài, chưa được xử lý kịp thời, gây lãng phí, thất thoát.
Nguyên nhân chủ yếu đến từ nhận thức chưa đầy đủ về vai trò kinh tế Nhà nước trong cơ chế thị trường, thể chế pháp luật chưa đồng bộ, kỷ luật thực thi chưa nghiêm. Chưa kể, năng lực quản trị còn hạn chế và trách nhiệm người đứng đầu chưa cao.
Việt Nam đặt mục tiêu đến 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Theo đó, kinh tế nhà nước cần được nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong, dẫn dắt trong nền kinh tế.
Hạ tầng đường sắt (Ảnh: Nam Anh).
Đánh giá về việc thực thi vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước nói riêng trong kinh tế thị trường hiện đại nói chung, ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi, cho biết kinh tế Nhà nước nên được tiếp cận theo hướng dẫn dắt định hướng phát triển, kiến tạo nền tảng và ổn định hệ thống, hơn là theo logic mở rộng quy mô hay can thiệp trực tiếp vào hoạt động thị trường.
Ông cho rằng vai trò này cần được thể hiện thông qua việc hình thành và củng cố các “trụ cột” về hạ tầng, thể chế, công nghệ và chuẩn mực, qua đó tạo môi trường thuận lợi để mọi thành phần kinh tế phát triển trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và kỷ luật thị trường.
Cũng theo ông Huy, kinh tế Nhà nước có lợi thế tự nhiên trong những lĩnh vực đòi hỏi tầm nhìn dài hạn, nguồn lực lớn và khả năng chấp nhận rủi ro ban đầu cao, đặc biệt là hạ tầng số, năng lượng sạch, logistics chiến lược, dữ liệu và công nghệ nền tảng.
Nếu được vận hành theo tư duy quản trị hiện đại – quản trị theo hiệu quả, gắn với trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững, khu vực này có thể vừa đóng vai trò “nhà đầu tư kiến tạo”, vừa là người thiết lập chuẩn mực, tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực cho khu vực tư nhân và toàn nền kinh tế.
“Chiến lược hợp lý không phải là mở rộng vai trò ở mọi lĩnh vực, mà là tập trung cao độ vào những không gian mà sự hiện diện của Nhà nước tạo ra giá trị gia tăng lớn nhất: hạ tầng thiết yếu, an ninh năng lượng, ổn định tài chính, tài nguyên chiến lược, dữ liệu và không gian số quốc gia”, ông Huy nhận định và cho biết có một số lĩnh vực mà kinh tế Nhà nước nên tập trung giữ vai trò chi phối, một số lĩnh vực nên mạnh dạn nhường “sân chơi” cho khu vực tư nhân
“Trọng tâm không phải là làm nhiều hơn mà là làm đúng hơn và sâu hơn”
Ngoài ra, trong các lĩnh vực mà cạnh tranh thị trường hoạt động hiệu quả và đổi mới diễn ra nhanh, việc chủ động thu hẹp vai trò trực tiếp của Nhà nước sẽ giúp giải phóng nguồn lực, kích hoạt sáng tạo và nâng cao hiệu quả toàn hệ thống.
Liên quan đến câu hỏi về việc để chống thất thoát, lãng phí và nâng cao kỷ luật thị trường trong khu vực kinh tế Nhà nước, cần ưu tiên cải cách thể chế quản trị, cơ chế giám sát hay trách nhiệm cá nhân của người đại diện vốn Nhà nước, ông Huy cho rằng trọng tâm then chốt không nằm ở việc tăng cường kiểm soát hành chính, mà ở cải cách thể chế quản trị doanh nghiệp Nhà nước theo chuẩn mực toàn cầu. Đó là tách bạch chức năng, nâng cao tính minh bạch, gắn quyền hạn với trách nhiệm giải trình, và chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy chủ sở hữu chuyên nghiệp.
Song song đó là việc giám sát và trách nhiệm cá nhân chỉ thực sự phát huy khi được đặt trong một khung quản trị rõ ràng, đo lường được và có kỷ luật, hiệu quả thực chất.
Về những ưu tiên cải cách cần triển khai sớm nhất để kinh tế Nhà nước thực sự trở thành lực lượng nòng cốt, ông Huy cho rằng tinh thần cốt lõi cần được quán triệt là: tập trung – chọn lọc – dẫn dắt – lan tỏa.
“Trọng tâm không phải là làm nhiều hơn mà là làm đúng hơn và sâu hơn: Tập trung nguồn lực vào một số dự án và doanh nghiệp có sức lan tỏa dài hạn về kinh tế, công nghệ, an ninh và vị thế quốc gia; tránh dàn trải; khuyến khích doanh nghiệp Nhà nước vươn ra khu vực và toàn cầu, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng quốc tế”, ông nhấn mạnh.
Theo vị chuyên gia, nếu được định vị đúng và vận hành đúng, kinh tế Nhà nước có thể trở thành trụ cột ổn định trong nước, người mở đường chiến lược cho tương lai và là điểm tựa niềm tin cho các quyết định đầu tư dài hạn, qua đó không chỉ góp phần nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế mà còn từng bước nâng tầm vị thế quốc gia trong cấu trúc kinh tế toàn cầu đang tái định hình.
Quang cảnh TP Hà Nội nhìn từ trên cao (Ảnh: Tiến Tuấn).
Đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với khối doanh nghiệp Nhà nước
Với tinh thần của Nghị quyết 79 và trong bối cảnh Việt Nam đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế, vai trò của doanh nghiệp Nhà nước đang được đặt lại theo hướng thực chất và chọn lọc hơn.
Theo chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), doanh nghiệp Nhà nước không chỉ là một cấu phần kinh tế, mà còn là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện điều tiết vĩ mô, ổn định thị trường và bảo đảm các mục tiêu an sinh, an ninh và chủ quyền quốc gia.
Ở những lĩnh vực then chốt như hạ tầng kinh tế, năng lượng, giao thông, hay tại các địa bàn khó khăn, biên giới, hải đảo, sự hiện diện của doanh nghiệp Nhà nước vẫn giữ vai trò không thể thay thế. Đặc biệt trong điều kiện khu vực tư nhân chưa đủ quy mô, nguồn lực hoặc khả năng chấp nhận rủi ro dài hạn. Thông qua việc đầu tư vào các ngành mũi nhọn và dự án nền tảng, khu vực này góp phần tạo động lực lan tỏa cho tăng trưởng kinh tế – xã hội.
Tuy nhiên, theo ông Lê Đăng Doanh, để doanh nghiệp Nhà nước phát huy đúng vai trò, điều kiện tiên quyết là phải đặt họ trong một môi trường kinh doanh lành mạnh, với khung khổ pháp lý minh bạch, dễ tiếp cận và hạn chế rủi ro công vụ.
Doanh nghiệp Nhà nước cần được vận hành theo nguyên tắc thị trường, lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo, đồng thời tách bạch rõ ràng giữa hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và nhiệm vụ cung ứng dịch vụ công ích do Nhà nước giao phó và điều tiết.
Từ thực tiễn hoạt động, ông cho rằng cần tiến hành rà soát, đánh giá toàn diện hiệu quả của các tập đoàn, tổng công ty và dự án đầu tư Nhà nước. Những trường hợp thua lỗ kéo dài, kém hiệu quả phải được xử lý dứt điểm, tránh kéo dài và làm thất thoát nguồn lực.
Ngược lại, vốn Nhà nước cần được tập trung cho các ngành, lĩnh vực thiết yếu, nơi doanh nghiệp Nhà nước có thể giữ vai trò dẫn dắt và tạo giá trị gia tăng lớn cho nền kinh tế.
Đặc biệt, sau khi Nghị quyết 79 được ban hành, trong giai đoạn 2025-2030, yêu cầu đối với doanh nghiệp Nhà nước không còn dừng ở mục tiêu bảo toàn vốn hay duy trì ổn định hoạt động.
Theo chuyên gia này, khu vực doanh nghiệp Nhà nước cần vươn lên trở thành lực lượng tiên phong trong chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Với lợi thế về quy mô, dữ liệu, tài nguyên và hạ tầng, doanh nghiệp Nhà nước có thể đóng vai trò đầu tàu trong các lĩnh vực như logistics, năng lượng, tài chính công, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn…
Để hoàn thành sứ mệnh này, doanh nghiệp Nhà nước không thể tiếp tục vận hành theo tư duy bao cấp hay đứng ngoài áp lực cạnh tranh. Ông Lê Đăng Doanh nhấn mạnh sự cần thiết của một cuộc cải cách “kép” là vừa đổi mới thể chế quản lý vốn Nhà nước theo hướng trao quyền thực chất, vừa thúc đẩy doanh nghiệp tự tái cấu trúc, nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động.
“Sự song hành giữa một khu vực tư nhân năng động và hệ thống doanh nghiệp Nhà nước hoạt động hiệu quả sẽ tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu”, ông Lê Đăng Doanh nhận định.
Song song đó, việc hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, xây dựng và định vị thương hiệu Việt cũng là yêu cầu tất yếu để doanh nghiệp Nhà nước khẳng định vị thế trong cạnh tranh quốc tế.
Quận Cầu Giấy tập trung nhiều trụ sở công ty công nghệ, trường học, cơ sở kinh doanh… với mật độ dân số đông đúc (Ảnh: Lê Hoàng Vũ).
Kỳ vọng vào “cú hích” của Nghị quyết 79
Bà Trần Thị Khánh Hiền, Giám đốc khối nghiên cứu Công ty Chứng khoán MBS, cho biết hiện nay, các doanh nghiệp có vốn Nhà nước đóng góp khoảng 29% tổng sản phẩm trong nước (GDP), nắm giữ vị thế đầu ngành xét trên nhiều tiêu chí như tổng tài sản, doanh thu và thị phần, thậm chí sở hữu lợi thế độc quyền trong một số lĩnh vực kinh tế trọng yếu như hàng không, dầu khí.
Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của khu vực này nhìn chung vẫn còn khiêm tốn, chưa khai thác đầy đủ năng lực quản lý và sử dụng vốn. Trong bối cảnh đó, nếu các nguồn lực được khơi thông thông qua cải cách thể chế, doanh nghiệp Nhà nước có thể tăng tốc mạnh mẽ trong giai đoạn tới.
Tương tự như cú hích chính sách từ Nghị quyết số 68 về phát triển kinh tế tư nhân, trong năm nay, bà Hiền kỳ vọng nhóm doanh nghiệp niêm yết vốn Nhà nước sẽ trở thành điểm nhấn, đặc biệt là các doanh nghiệp đầu ngành, sở hữu năng lực tài chính vững vàng, lượng tiền mặt dồi dào, hiệu quả hoạt động cao với tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) trên 10%, trong khi định giá thị trường vẫn đang ở mức hấp dẫn.
Bên cạnh đó, Nghị quyết mới cũng được kỳ vọng sẽ tạo lập hành lang pháp lý vững chắc cho việc sắp xếp lại danh mục đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước, qua đó thúc đẩy tiến trình thoái vốn, niêm yết và cổ phần hóa các doanh nghiệp còn tồn đọng trong thời gian qua.
Nguồn: https://dantri.com.vn/kinh-doanh/ky-vong-vao-cu-hich-khi-doanh-nghiep-nha-nuoc-duoc-trao-them-co-hoi-20260109134523076.htm

