VietinBank hiện tại niêm yết biểu lãi suất huy động tiền gửi trực tuyến ở mức 3%/năm cho kỳ hạn 1-2 tháng; 3,4%/năm với kỳ hạn 3-5 tháng; 4,5%/năm cho kỳ hạn 6-11 tháng; 5,2%/năm với kỳ hạn 12 tháng và 5,3%/năm cho các kỳ hạn 13-36 tháng.
Tuy nhiên, ngân hàng vừa triển khai chính sách cộng thêm lãi suất đối với khách hàng gửi tiết kiệm thông thường, qua đó đẩy mặt bằng lãi suất thực nhận tăng đáng kể ở nhiều kỳ hạn.
Cụ thể, với các khoản tiền gửi dưới 6 tháng, VietinBank cộng thêm từ 0,9-2,65%/năm đối với kỳ hạn 1-2 tháng và từ 1-2,35%/năm với kỳ hạn 3-5 tháng. Sau khi cộng thêm, lãi suất thực nhận chạm mức trần 4,75%/năm theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với tiền gửi có kỳ hạn dưới 6 tháng.
Đối với kỳ hạn 6-11 tháng, ngân hàng cộng thêm từ 1-2,3%/năm so với mức niêm yết 4,5%/năm, qua đó đưa lãi suất thực tế lên 5,5-6,8%/năm.
Kỳ hạn 12 tháng hiện được niêm yết 5,2%/năm và có thể tăng lên 6%/năm khi được cộng thêm 0,8%/năm.
Trong khi đó, các kỳ hạn 13-18 tháng đang niêm yết ở mức cao nhất 5,3%/năm, nhưng sau khi cộng thêm 0,1-0,8%/năm, lãi suất thực nhận có thể đạt tới 6,1%/năm. Tương tự, với kỳ hạn 24-36 tháng, mức cộng thêm 0,8%/năm, giúp lãi suất cao nhất cũng lên tới 6,1%/năm.
Kiểm tra giao dịch tiền tại ngân hàng (Ảnh: Mạnh Quân).
Trước đó, một thành viên khác trong nhóm Big 4 là Agribank cũng điều chỉnh tăng lãi suất tiết kiệm thêm 0,2-0,7%/năm. Hiện mức lãi suất huy động cao nhất theo niêm yết của ngân hàng này là 6%/năm cho kỳ hạn 12-24 tháng, trong khi kỳ hạn 6-9 tháng được nâng lên 5,7%/năm.
Tại BIDV, dù lãi suất niêm yết cho kỳ hạn 6 tháng là 4,5%/năm, nhưng thực tế có thể lên tới 6,6%/năm nếu khách hàng gửi từ 300 triệu đồng tại quầy. Tương tự, kỳ hạn 12 tháng dù niêm yết 5,2%/năm song mức lãi suất cao nhất thực tế có thể đạt 6,9%/năm.
Dữ liệu lãi suất huy động trực tuyến ngày 24/2 cho thấy mặt bằng lãi suất giữa các ngân hàng có sự phân hóa rõ rệt theo từng kỳ hạn.
Tại kỳ hạn 1 tháng, nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức thấp, phổ biến 3-3,2%/năm. Trong khi đó, khối ngân hàng tư nhân đẩy lãi suất lên cao hơn đáng kể, nhiều nhà băng niêm yết quanh 4,5-4,75%/năm; cá biệt có ngân hàng lên tới 4,75%/năm, tạo chênh lệch gần 1,5%/năm so với nhóm Big 4.
Ở kỳ hạn 3 tháng, xu hướng tương tự tiếp diễn khi nhóm quốc doanh chỉ ở mức 3,4-3,7%/năm, còn phần lớn ngân hàng tư nhân dao động 4,4-4,75%/năm. Khoảng cách lãi suất giữa 2 khối vẫn duy trì ở mức trên 1%/năm.
Kiểm tra giao dịch tiền tại ngân hàng (Ảnh: Mạnh Quân).
Với kỳ hạn 6 tháng, nhóm Big 4 niêm yết quanh 4,5-5,7%/năm, trong khi nhiều ngân hàng tư nhân đã nâng lên 6-6,8%/năm, thậm chí có đơn vị chạm 7,1%/năm. Mặt bằng phổ biến của thị trường nằm trong khoảng 5,5-6,5%/năm, phản ánh nhu cầu huy động vốn trung hạn gia tăng.
Kỳ hạn 12 tháng là kỳ hạn được nhiều ngân hàng đẩy lên cao để thu hút dòng tiền ổn định. Nhóm quốc doanh niêm yết 5,2-6%/năm, trong khi nhiều ngân hàng tư nhân đã nâng lên 6,3-7,2%/năm.
Với kỳ hạn 18 tháng, một số ngân hàng niêm yết trên 7%/năm, cao nhất khoảng 7,2%/năm, trong khi nhóm Big 4 vẫn quanh 5,3-6%/năm.
Theo thống kê, từ đầu tháng 2, đã có 7 ngân hàng tăng lãi suất huy động gồm Agribank, MB, TPBank, KienlongBank, Vietcombank, LPBank, Sacombank. Ngược lại, ACB, ABBank, và Techcombank là những ngân hàng giảm lãi suất huy động.
Nguồn: https://dantri.com.vn/kinh-doanh/lai-suat-huy-dong-bat-tang-chenh-lech-giua-cac-nha-bang-noi-rong-20260224154055707.htm

