Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) mới đây điều chỉnh tăng lãi suất huy động trên diện rộng. Đây là lần đầu đơn vị này điều chỉnh lãi suất ngân hàng kể từ sau ngày 19/12/2025, áp dụng cho hầu hết kỳ hạn từ 3-48 tháng.
Theo biểu lãi suất mới, tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 3-5 tháng tăng lên 4,7%/năm; kỳ hạn 6-11 tháng lên 5,55%/năm; kỳ hạn 12-18 tháng đạt 5,8%/năm. Đáng chú ý, lãi suất cao nhất được nâng lên 6,4%/năm cho kỳ hạn 24-48 tháng.
Lãi suất tiền gửi tại quầy cũng được điều chỉnh tăng, với mức cao nhất 6,3%/năm cho kỳ hạn 24-60 tháng đối với khoản dưới 1 tỷ đồng và 6,4%/năm với khoản từ 1 tỷ đồng trở lên.
Song song đó, MB tăng mạnh lãi suất chứng chỉ tiền gửi thêm 0,3-0,5%/năm, đưa mức cao nhất lên 6%/năm cho các kỳ hạn từ 3-6 tháng.
Trước MB, một ngân hàng trong nhóm big 4 (4 ngân hàng thuộc khối Nhà nước) là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) vừa điều chỉnh tăng mạnh lãi suất huy động ở hầu hết kỳ hạn từ 1-24 tháng.
Theo biểu lãi suất trực tuyến mới, kỳ hạn 1-2 tháng tăng lên 3,2%/năm, kỳ hạn 3-5 tháng đạt 3,7%/năm. Đáng chú ý, các kỳ hạn 6-9 tháng và 12-24 tháng đồng loạt tăng tới 0,7%/năm, đưa lãi suất cao nhất của Agribank lần đầu chạm mốc 6%/năm sau hơn 2 năm.
Kiểm tra giao dịch tiền tại ngân hàng (Ảnh: Mạnh Quân).
Dựa trên biểu lãi suất huy động trực tuyến niêm yết ngày 10/2, mặt bằng lãi suất cho thấy sự phân hóa rất rõ theo từng kỳ hạn và nhóm ngân hàng, đặc biệt từ kỳ hạn trung – dài hạn trở lên.
Với kỳ hạn 1 tháng, lãi suất dao động trong khoảng 1,6-4,75%/năm. Nhóm ngân hàng quốc doanh tiếp tục giữ mặt bằng thấp, trong đó Vietcombank thấp nhất với 2,1%/năm, BIDV và VietinBank ở mức 3%/năm, Agribank nhỉnh hơn với 3,2%/năm. Trong khi đó, phần lớn ngân hàng tư nhân niêm yết quanh 4,5-4,75%/năm; SCB là trường hợp cá biệt khi chỉ ở 1,6%/năm.
Ở kỳ hạn 3 tháng, mặt bằng lãi suất phổ biến từ 3,4-4,75%/năm. Nhóm big 4 tiếp tục duy trì mức thấp (2,4-3,7%/năm), còn các ngân hàng thương mại cổ phần đồng loạt neo quanh 4,7-4,75%/năm, phản ánh áp lực huy động vốn ngắn hạn.
Khách giao dịch tiền tại ngân hàng (Ảnh: Mạnh Quân).
Ở kỳ hạn 6 tháng, lãi suất bắt đầu phân hóa mạnh, dao động từ 2,9-7,1%/năm. Nhóm big 4 chỉ quanh 3,5-5,7%/năm, trong khi nhiều ngân hàng tư nhân đã vượt 6,5%/năm. PGBank (7,1%), Techcombank (6,85%), Bac A Bank (6,8%), MBV (6,5%) nằm trong nhóm cao nhất thị trường.
Ở kỳ hạn 9 tháng, xu hướng tương tự kỳ hạn 6 tháng, lãi suất trải rộng 2,9-7,1%/năm. Các ngân hàng quy mô nhỏ và vừa tiếp tục chiếm ưu thế với mức trên 6,5%/năm, trong khi big 4 giữ ổn định ở 4,5-5,7%/năm.
Kỳ hạn 12 tháng hiện là kỳ hạn cạnh tranh gay gắt nhất. Lãi suất dao động từ 3,7-7,2%/năm. Agribank lần đầu niêm yết 6%/năm sau hơn 2 năm, trong khi PGBank và MBV dẫn đầu với 7,2%/năm, tiếp đến là Techcombank (6,95%), Bac A Bank (6,85%).
Mức lãi suất cao nhất toàn thị trường tập trung ở kỳ hạn 18 tháng, dao động khoảng 3,9-7,2%/năm. MBV (7,2%), BVBANK (7%), Techcombank (6,95%), Bac A Bank (6,9%) thuộc nhóm cao nhất, trong khi big 4 duy trì quanh 5,2-5,3%/năm.
Nguồn: https://dantri.com.vn/kinh-doanh/lai-suat-tiet-kiem-tang-manh-co-tien-gui-o-dau-lai-nhat-20260210155326649.htm

