Thứ tư, Tháng ba 11, 2026
HomeGiải Trí'Lịch sử khẩn hoang miền Nam' - những cuộc thiên di

‘Lịch sử khẩn hoang miền Nam’ – những cuộc thiên di

Lần nào đọc biên khảo ”Lịch sử khẩn hoang miền Nam”, tôi cũng thương những lưu dân đi mở cõi, bỏ biết bao công sức để có một vùng Nam bộ trù phú.

* Bài cảm nhận cho chuyên mục “Cuốn sách tôi yêu”

Tôi thích đọc tiểu thuyết nên vốn định viết cảm nhận về một cuốn
tiểu thuyết nào đó. Chùm nho phẫn nộ (The Grapes of Wrath) của John Steinbeck ban đầu được chọn vì câu chuyện mà tác phẩm này mang lại đáng để suy ngẫm. Tuy nhiên, lúc tóm tắt nội dung tiểu thuyết này thì nó gợi lại cho tôi cuốn biên khảo Lịch sử khẩn hoang miền Nam của nhà văn Sơn Nam. Cả hai đều là câu chuyện của những cuộc thiên di, của những con người bị ép buộc phải rời khỏi quê hương xứ sở khi không còn lựa chọn nào khác do thiên tai, địch họa, do lợi ích của những tay tài phiệt luôn ưu tiên quyền lợi của mình, trật tự xã hội cũng từ đó mà biến chuyển khôn lường.

”Ta nên trở về với bối cảnh của ta. Trở về, lại là hành động tích cực chớ không là thưởng ngoạn, thụ động”, đúng như nhà văn Sơn Nam đã nói trong lời nói đầu của cuốn biên khảo và tôi đã trở về với cuốn sách ấy theo cách như thế.

Quyển này tôi mua đã rất lâu, lúc còn là sinh viên, qua mấy bận chuyển dời
chỗ ở, cuốn sách vẫn theo tôi đến tận bây giờ. Thú thực thì lần đầu đọc biên khảo Lịch sử khẩn hoang miền Nam, tôi chưa mường tượng được các địa danh mà nhà văn Sơn Nam đã nêu do những hạn chế kiến thức về lịch sử của tôi lúc đó. Chủ yếu là tôi đọc hai vụ án trong phần phụ lục của sách, đặc biệt là vụ án Nọc Nạn, do nó được nhắc đến trong bộ phim truyền hình Đất rừng phương Nam.

Khi trải nghiệm sống dày lên thì những địa danh đã nêu trong sách cuốn hút tôi một cách kỳ lạ, có lẽ khát khao muốn tìm hiểu rõ ngọn nguồn vùng đất mà mình sinh ra và lớn lên đã thôi thúc tôi đọc đi đọc lại rất nhiều lần để hiểu cặn kẽ thông tin trong sách. Cũng nhờ vậy mà sau này khi đọc tiểu thuyết Bửu Sơn kỳ hương của nhà văn Lý Lan, tôi đã biết rõ các cái tên như: Trấn Biên, Phiên Trấn, Phiên An, Cù lao Phố… để giải thích cho con của mình.

”Khẩn hoang đòi hỏi nhiều yếu tố căn bản. Khẩn hoang ở đồng bằng sông
Cửu Long là cuộc vận động lớn, toàn diện về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa.
Vua chúa quy định chính sách điền địa, thuế khóa, quân dịch và thưởng phạt. Tùy nhu cầu mà có khi quân sĩ, lưu dân và tù nhân phải đóng đồn, lập ấp, cày cấy ở nơi mất an ninh. Đất kém mầu mỡ, khó canh tác nhưng chính quyền lại cưỡng bách đến định cư”.

Có thể nói công cuộc khẩn hoang miền Nam được nhà văn Sơn Nam tóm lược rất rõ trong nội dung trên, các chúa Nguyễn từ lâu đã quan tâm đến vùng đất ở Đồng Nai và Cửu Long, nên khi thời cơ chín muồi thì cuộc đất ấy được khẩn trương tiến hành. Dù vậy, địa cuộc ấy mãi đến đời vua Tự Đức mới ”hoàn tất khi đường thủy nắm ưu thế”. Trải qua những đổi dời của các triều đại, những gian truân, khắc nghiệt của thiên nhiên vùng đất Nam bộ thời ấy, các bậc tiền nhân đã bỏ không biết bao nhiêu công sức để một vùng Nam bộ trù phú được thành hình để lại cho con cháu về sau.

Bìa sách Lịch sử khẩn hoang miền Nam. Ảnh: Nhà xuất bản Trẻ

Bìa sách ”Lịch sử khẩn hoang miền Nam”. Ảnh: Nhà xuất bản Trẻ

Lần nào đọc lại cuốn biên khảo tôi cũng thấy thương những lưu dân đi mở
cõi, họ là ”những người từ Bố Chánh (Quảng Bình) trở vào đến lập nghiệp. Số
người này sống rải rác từ Bà Rịa đến cù lao Phố (Biên Hòa), vùng Sài Gòn, Mỹ
Tho”. Khi tìm hiểu về gia phả dòng họ, tôi mới biết ông, bà của mình cũng nằm
trong dòng người xuôi phương Nam ấy, đó là một cuộc ly hương đầy những rủi ro, bất trắc.

”Sông sâu nước chảy”, câu này hồi nhỏ tôi hay nghe ông nội nói vậy nhưng
chưa hiểu lắm. Cho đến khi đọc cuốn biên khảo mới biết việc người xưa chọn đất ven sông để vừa thuận lợi giao thông, vừa tránh được bệnh tật, vừa có nước sinh hoạt. Tôi mới nhận ra đó cũng không phải là ”phong thủy” huyền bí cao siêu gì cả, chính từ thực tế sinh tồn khắc nghiệt mà người xưa đã đúc kết ra được.

Khi đọc đến những dòng viết về ”Lằn ranh biên giới giữa ta và Cao Miên
khi Cao Miên dâng đất Tầm Phong Long là vùng người Miên gọi là Méat Chruk”. Việc bảo vệ biên giới Việt – Cao Miên được vua Gia Long đặc biệt chú trọng vì ”địa thế Châu Đốc, Hà Tiên không kém Bắc thành. Bắc thành để ngăn ngừa nạn xâm lăng của Trung Hoa; Hà Tiên, Châu Đốc để ngăn ngừa giặc Xiêm và giặc Cao Miên”. Một phần Tầm Phong Long sau này chính là vùng đất Đồng Tháp, quê hương mà tôi sinh ra và lớn lên, vùng đất ấy từng nằm ở tiền tuyến của lịch sử, người xưa đã ra sức bảo vệ từng tấc đất chốn biên thùy.

Rồi những công trình đào các con kinh ở Nam bộ, điển hình là kinh Vĩnh Tế
đã huy động hàng vạn dân công đổ sức lực và cả sinh mạng để hoàn thành con kinh ấy: ”Kinh Vĩnh Tế đào 5 năm mới xong, ngưng rồi lại tiếp tục. Có đoạn dễ đào vì nhằm nơi đất ruộng, sình lầy (khúc kinh này qua vùng Bến Đổi), nhưng có khúc ở đất cứng, có đá, sát chân núi. Mùa nắng phải ngưng lại vì thiếu nước uống cho dân phu. Vua Minh Mạng tiếp tục công trình do Gia Long đề xướng. Lê Văn Duyệt huy động đến 55.000 dân công, gồm người Việt ở Vĩnh Thanh, Định Tường và người Miên ở đồn Uy Viễn. Mãi đến nay, dân gian còn nhắc lại những khó khăn khi đào con kinh này, lớp thì chết vì bịnh, lớp thì trốn về dọc đường bị sấu ăn thịt…”. Nghĩ đến từng lớp người ngã xuống để dòng nước hôm nay hiền hòa, bình yên chảy qua các ruộng đồng, tôi hiểu rằng sự bình yên này không tự nhiên mà có, nó được trả bằng mồ hôi, xương máu, bằng những cuộc lìa quê vĩnh viễn.

Cuộc khẩn hoang chưa dừng lại ở đó, khi Pháp tiến hành cuộc xâm lược Nam kỳ, cấu trúc xã hội thay đổi, đất đai tập trung vào tay địa chủ, nông dân khốn khó. Có năm mất mùa, lúa vẫn bị gom lại để trả địa tô rồi xuất cảng, trong khi người địa phương thiếu gạo ăn. Ta thấy được lịch sử khẩn hoang không chỉ là những trang sử rực rỡ, nó còn có các trang sử mà ánh sáng không thể chạm tới được với vô số nhọc nhằn vây lấy những thân phận lưu dân hèn mọn chìm nổi trong điêu linh của những cuộc đổi dời, từng tấc đất phương Nam này thấm đẫm những bi hùng của những người đi khẩn hoang mở cõi. Lưu dân, rất nhiều người không được tạc tượng, cũng không có tên trên các bia đá ghi công, họ chỉ là những người bình thường, vô danh, buộc phải ra đi vì hoàn cảnh, nhưng từng lớp người đã cùng nhau gây dựng nên mảnh đất phương Nam cho muôn đời sau.

Mặt nước con kinh ánh lên màu nắng cuối ngày trên cánh đồng quê tôi khi
chiều dần buông xuống. Tôi đứng lặng một lúc coi khói đốt đồng bay lên chậm rãi, mùi rơm rạ ngai ngái khiến tôi miên man về một ‘miền cố thổ’ xa xăm, như cảm nhận được từng đoàn người lưu dân xuôi về phương Nam, mang theo chí lớn mở mang bờ cõi để tạo thành một dải chữ S nước Việt vẹn đầy cho hậu thế, như nghe trong sâu thẳm tiếng bước chân người xưa vọng về, những bước chân ấy đã đi qua hơn ba trăm năm. Để hôm nay tôi có thể đứng đây, giữa một vùng châu thổ xanh tươi, nghiêng mình nhớ về dặm dài dâu bể mở cõi của tiền nhân.

Phan Quốc Cường

Hướng tới kỷ niệm 25 năm thành lập (26/2/2001-26/2/2026), VnExpress triển khai hoạt động xây dựng 25 tủ sách ở 25 trường tiểu học, trung học cơ sở. Mong muốn nối dài những câu chuyện đẹp, tòa soạn mời độc giả gửi bài cảm nhận về Cuốn sách tôi yêu.

Độc giả mọi độ tuổi có thể gửi bài viết (không giới hạn số lượng) về email [email protected], tên mail là: “Bai cam nhan Cuon sach toi yeu”. Thời hạn nhận bài từ ngày 12/2 đến ngày 31/3, trong mail vui lòng cung cấp họ tên và số điện thoại để thuận tiện cho việc liên lạc.

Mỗi bài có độ dài tối đa 1.500 từ. Bài viết phải là sáng tác mới, chưa từng đăng tải trên các phương tiện truyền thông hoặc mạng xã hội. Khuyến khích những bài viết có hình ảnh đi kèm (ảnh sách hoặc hình ảnh độc giả cùng sách).

Ngoài bài viết, độc giả có thể gửi cảm nhận về cuốn sách yêu thích bằng hình thức podcast hoặc video. Tác giả chịu trách nhiệm về bản quyền nội dung và hình ảnh.

Nguồn: https://vnexpress.net/lich-su-khan-hoang-mien-nam-nhung-cuoc-thien-di-5048594.html

VnExpress Logo

Hello Mình là Cải

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Mới nhất
Cũ nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Tin Nóng Hôm Nay