Thông tư 08/2026/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn xác thực thông tin thuê bao di động mặt đất (theo Nghị định 163/2024) sẽ có hiệu lực từ ngày 15-4-2026.
Quy định mới được xem là bước chuyển mạnh trong quản lý SIM và dữ liệu người dùng, khi lần đầu tiên yêu cầu xác thực sinh trắc học khuôn mặt và kết nối trực tiếp với Cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia, nhằm hạn chế SIM rác, giả mạo và gian lận viễn thông.

Bắt buộc xác thực 4 thông tin
Theo Thông tư 08/2026/TT-BKHCN, việc xác thực thuê bao di động (đặc biệt là thuê bao H2H – cá nhân sử dụng) phải đảm bảo 4 trường thông tin: số định danh cá nhân; họ, chữ đệm và tên; ngày, tháng, năm sinh; thông tin sinh trắc học ảnh khuôn mặt.
Việc xác thực có thể thực hiện thông qua một trong bốn phương thức cụ thể.
Thứ nhất, xác thực trực tuyến thông qua ứng dụng định danh quốc gia (VNelD).
Thứ hai, xác thực trực tuyến qua ứng dụng của chính doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất sở hữu.
Thứ ba, xác thực trực tiếp tại điểm do chính doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất trực tiếp sở hữu, thiết lập.
Thứ tư, xác thực trực tiếp tại điểm có địa chỉ xác định do doanh nghiệp khác thiết lập, được doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất ký hợp đồng ủy quyền để thực hiện việc đăng ký thông tin thuê bao.
Doanh nghiệp viễn thông sẽ xác thực thông tin thuê bao thông qua sử dụng dịch vụ xác thực điện tử để xác thực thông tin: số định danh cá nhân; họ, chữ đệm và tên; ngày, tháng, năm sinh; dữ liệu sinh trắc học ảnh khuôn mặt đảm bảo trùng khớp với dữ liệu tại CSDL quốc gia về dân cư hoặc CSDL căn cước. Nếu các số thuê bao di động đã xác thực điện tử được coi là đã hoàn thành.
Các doanh nghiệp cũng có thể xác thực trực tiếp bằng dữ liệu tại bộ phận lưu trữ thông tin được mã hóa của thẻ căn cước đã được xác thực chính xác là do cơ quan công an cấp. Nếu thông tin đã xác thực, trùng khớp với dữ liệu tại bộ phận lưu trữ thông tin được mã hóa của thẻ căn cước được coi là đã hoàn thành.
Với trường hợp sử dụng CCCD không gắn chip và không thể xác thực điện tử, doanh nghiệp sẽ đối chiếu thông tin trên giấy tờ tùy thân và ảnh khuôn mặt chụp trực tiếp của người đăng ký với thông tin trong CSDL quốc gia về dân cư hoặc CSDL căn cước. Hoặc có thể áp dụng hình thức gọi video (video call) để kiểm tra, xác nhận chính chủ.
Lưu ý các trường hợp này, khi đăng ký, kích hoạt từ SIM thuê bao di động H2H thứ hai trở đi, doanh nghiệp phải xác thực thông qua mã xác thực một lần (mã OTP) gửi đến SIM đăng ký, kích hoạt trước đó.
Xác thực khi thay đổi thiết bị đầu cuối
Thông tư 08/2026/TT-BKHCN cũng siết chặt kiểm soát trong quá trình sử dụng. Theo đó, trong thời gian tối đa 2 giờ kể từ thời điểm thuê bao thay đổi thiết bị sử dụng, doanh nghiệp có nghĩa vụ rà soát, phát hiện và tạm dừng cung cấp dịch vụ viễn thông chiều đi (gọi điện thoại, gửi tin nhắn), đồng thời yêu cầu thuê bao thực hiện lại xác thực sinh trắc học ảnh khuôn mặt.
Với số thuê bao di động H2H, trong vòng 30 ngày kể từ ngày tạm dừng cung cấp dịch vụ viễn thông chiều đi phải thực hiện lại xác thực sinh trắc học ảnh khuôn mặt. Nếu không thực hiện sẽ bị tạm dừng hai chiều, tiếp đó 5 ngày, nếu vẫn không xác thực, sẽ bị thanh lý hợp đồng và chấm dứt cung cấp dịch vụ.
Bên cạnh đó, Thông tư 08/2026/TT-BKHCN cũng quy định một số trường hợp được miễn xác thực lại. Cụ thể, các thuê bao đã đăng ký, xác thực thông tin bằng tài khoản định danh điện tử mức độ 2, thẻ căn cước hoặc CCCD gắn chip điện tử (hoặc dùng chính số thuê bao để đăng ký định danh điện tử mức độ 2) sẽ không phải xác thực lại thông tin hay sinh trắc học ảnh khuôn mặt.
Quy định này cũng áp dụng với các số thuê bao di động H2H đã được thuê bao sử dụng tài khoản định danh điện tử mức độ 2 hoặc thẻ căn cước hoặc CCCD gắn chip điện tử để đăng ký và đã được thuê bao thông qua ứng dụng VNelD trực tiếp xác nhận bản thân đang sử dụng (trừ trường hợp thay đổi thiết bị đầu cuối).
Với các thuê bao di động H2H đăng ký bằng CMND 9 số nhưng đã xác nhận đang sử dụng qua ứng dụng VNeID, nhà mạng phải cập nhật lại thông tin và bổ sung xác thực sinh trắc học khuôn mặt trong vòng 60 ngày kể từ khi nhận được xác nhận. Nếu thuê bao không thực hiện, hoặc xác thực không đầy đủ, không chính xác, nhà mạng có thể tạm dừng dịch vụ chiều gọi đi.
Đối với các số thuê bao di động H2H được cá nhân thông qua ứng dụng VNelD trực tiếp xác nhận bản thân không đăng ký, không sử dụng, nhà mạng phải gửi thông báo liên tục trong 5 ngày kể từ ngày nhận thông tin qua VNeID (mỗi ngày ít nhất một lần), yêu cầu người đang sử dụng số đó thực hiện lại việc giao kết hợp đồng theo quy định và xác thực sinh trắc học ảnh khuôn mặt của thuê bao. Nếu không thực hiện, thuê bao sẽ bị tạm dừng cung cấp dịch vụ viễn thông chiều đi.
Sau đó, trong vòng 60 ngày kể từ thời điểm SIM bị khóa một chiều, doanh nghiệp viễn thông phải hoàn thành việc cập nhật, chuẩn hóa thông tin thuê bao và bổ sung xác thực sinh trắc học ảnh khuôn mặt của thuê bao. Nếu thuê bao không thực hiện sẽ bị khóa hai chiều và bị chấm dứt dịch vụ sau 5 ngày tiếp theo.
Đối với các số thuê bao di động H2H không thuộc các trường hợp đã nêu trên, trong vòng 30 ngày kể từ ngày Thông tư 08/2026/TT-BKHCN có hiệu lực, doanh nghiệp viễn thông gửi thông báo đề nghị thuê bao cập nhật, chuẩn hóa thông tin và xác thực sinh trắc học ảnh khuôn mặt.
Sau 60 ngày kể từ ngày Thông tư 08/2026/TT-BKHCN có hiệu lực, nếu người dùng không xác thực, doanh nghiệp sẽ tạm dừng cung cấp dịch vụ viễn thông chiều đi và gửi thông báo đề nghị thuê bao cập nhật, chuẩn hóa thông tin.
Tiếp đó, trong vòng 60 ngày kể từ thời điểm bị khóa một chiều, người dùng vẫn phải hoàn tất việc xác thực. Nếu tiếp tục không thực hiện, thuê bao sẽ bị khóa hai chiều và bị chấm dứt dịch vụ sau 5 ngày.
Thuê bao người nước ngoài xác thực ra sao?
Với thuê bao di động H2H do người nước ngoài đăng ký, doanh nghiệp viễn thông phải thực hiện xác thực thông tin theo một trong hai cách.
Thứ nhất, xác thực điện tử đối với 4 thông tin gồm: số định danh cá nhân; họ, chữ đệm và tên; ngày, tháng, năm sinh; dữ liệu sinh trắc học ảnh khuôn mặt. Các thông tin này phải trùng khớp với dữ liệu trong CSLD quốc gia về xuất nhập cảnh. Thuê bao hoàn tất bước này được coi là đã đáp ứng quy định.
Thứ hai, xác thực trực tiếp tại điểm giao dịch do doanh nghiệp viễn thông thiết lập hoặc tại điểm được ủy quyền. Tuy nhiên, khi thực hiện theo hình thức này, vẫn phải đảm bảo các yêu cầu bổ sung.
Cụ thể, với người sử dụng hộ chiếu còn thời hạn sử dụng ở Việt Nam theo thị thực nhập cảnh hoặc theo thời hạn lưu trú tối đa với các nước được miễn thị thực, doanh nghiệp viễn thông phải thực hiện đầy đủ các biện pháp thực hiện khi đăng ký từ SIM thứ hai trở đi, phải xác thực bằng mã OTP gửi về số thuê bao đã đăng ký trước đó hoặc thực hiện cuộc gọi ghi hình (video call) để xác minh đối với từng số thuê bao mà cá nhân đăng ký.
Trường hợp người nước ngoài sử dụng tài khoản định danh điện tử để đăng ký, doanh nghiệp viễn thông thực hiện các biện pháp xác thực tương tự, bao gồm OTP và video call.
Việc xác thực thông tin thuê bao của số thuê bao di động H2H với trường hợp người đăng ký hoặc cá nhân thuộc tổ chức được giao sử dụng số thuê bao là người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch chỉ được thực hiện trực tiếp tại điểm giao dịch hoặc điểm được ủy quyền.
Doanh nghiệp viễn thông thực hiện các biện pháp xác thực gửi mã OTP (đối với SIM thứ hai trở đi) hoặc gọi video để xác minh khuôn mặt đối với từng số thuê bao di động mà cá nhân đăng ký.
Với các thuê bao của người nước ngoài đăng ký bằng hộ chiếu, trong vòng 60 ngày kể từ thông tư có hiệu lực, doanh nghiệp phải thông báo và hoàn tất việc xác thực lại thông tin thuê bao.
Nếu thuê bao không thực hiện hoặc xác thực không đầy đủ, không chính xác, sẽ bị tạm dừng chiều gọi đi. Sau thời điểm này, nếu vẫn không xác thực, thuê bao sẽ bị tạm dừng hai chiều, thông báo về việc sẽ bị thanh lý hợp đồng, chấm dứt cung cấp dịch vụ. Sau 5 ngày kể từ khi bị dừng hai chiều mà vẫn không thực hiện sẽ chấm dứt dịch vụ theo quy định.
Nguồn: https://plo.vn/muon-khong-bi-khoa-sim-chu-thue-bao-phai-xac-thuc-sinh-trac-hoc-theo-nhung-cach-nay-post902849.html

