Mở lại Eo biển Hormuz không chỉ là bài toán hải quân, mà có thể buộc Mỹ triển khai không quân, bộ binh và nguồn lực lớn trong nhiều tháng.
Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tuyên bố sẽ mở cửa trở lại Eo biển Hormuz, huyết mạch nắm giữ 20% lượng vận chuyển dầu thô toàn cầu nhưng gần như đang bị Iran phong tỏa. Tuy nhiên, điều này sẽ không dễ dàng.
Ông Trump và Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth liên tục cam kết rằng tàu hải quân Mỹ sẽ hộ tống các tàu chở dầu và tàu thuyền khác qua eo biển. Tổng thống Mỹ hôm 12/3 cho biết hoạt động hộ tống sẽ bắt đầu “rất sớm”. Trong bài đăng trên mạng xã hội ngày 14/3, ông kêu gọi các quốc gia khác điều tàu chiến đến khu vực để hỗ trợ Mỹ.
Mỹ vẫn trì hoãn đưa tàu chiến vào Eo biển Hormuz, nơi hẹp nhất chỉ rộng gần 34 km. Họ lo ngại tên lửa diệt hạm và máy bay không người lái (UAV) của Iran có thể biến khu vực thành “tử địa” đối với thủy thủ Mỹ.
Tàu sân bay USS Nimitz di chuyển qua Eo biển Hormuz để vào Vùng Vịnh tháng 9/2020. Ảnh: AFP
Một phương án để dọn đường cho hoạt động hộ tống là tăng cường sử dụng không quân để săn lùng các bệ phóng tên lửa và UAV Iran trước khi chúng kịp khai hỏa. Một phương án khác là sử dụng bộ binh để chiếm giữ các vùng đất xung quanh eo biển này.
Chính quyền Mỹ cho biết họ đang để ngỏ mọi lựa chọn, gồm cả việc sử dụng bộ binh kiểm soát lãnh thổ. Ông Trump hôm 13/3 ra lệnh điều động một đơn vị thủy quân lục chiến viễn chinh (MEU), thường gồm các tàu chiến với hàng nghìn thủy thủ, máy bay chiến đấu và 2.200 lính thủy quân lục chiến, tới Trung Đông.
Hoạt động hộ tống
Trong nhiệm vụ hộ tống, tàu chiến Mỹ sẽ di chuyển bên cạnh các tàu dầu qua eo biển để rà phá thủy lôi và đối phó với các cuộc tập kích của Iran.
Chuyên gia ước tính mỗi tàu dầu cần hai tàu chiến, hoặc một đội tàu 5-10 chiếc sẽ cần đoàn hộ tống 12 chiến hạm, nhằm đảm bảo khả năng bảo vệ cần thiết. Khoảng cách hẹp tại Eo biển Hormuz khiến việc bắn hạ tên lửa và UAV tấn công trở nên khó khăn hơn nhiều, buộc đội hộ tống phải có lực lượng đông đảo.
Dù các cuộc tấn công của Mỹ và Israel trong nhiều tuần qua đã làm suy yếu đáng kể năng lực quân sự và hải quân của Iran, nước này vẫn chứng minh được khả năng tấn công của mình.
Bryan Clark, chuyên gia cấp cao tại Viện Hudson và từng là sĩ quan hải quân, ước tính rằng ngoài tàu chiến, Mỹ sẽ cần ít nhất 10 UAV MQ-9 Reaper tuần tra liên tục, kịp thời phát hiện và tấn công các bệ phóng tên lửa, UAV của Iran ngay khi chúng xuất hiện trên bờ biển.
“Điều này đòi hỏi sự tham gia liên tục của hàng nghìn thủy thủ và binh sĩ, cùng một khoản đầu tư tiền bạc khá lớn. Bạn còn có thể phải duy trì điều đó trong nhiều tháng”, Clark nói.
Một chuyên gia quân sự khác đề xuất sử dụng những khí tài như máy bay phản lực Harrier Jump Jet của thủy quân lục chiến để hỗ trợ đội hộ tống.
Việc huy động tàu chiến cho nhiệm vụ hộ tống đồng nghĩa họ phải rút khỏi các nhiệm vụ tác chiến khác. Ông Trump ngày 14/3 cho biết ông hy vọng NATO và các quốc gia như Trung Quốc sẽ gửi tàu hỗ trợ nhiệm vụ này. Tuy nhiên, Anh đã thẳng thừng từ chối đề nghị, trong khi Trung Quốc chưa lên tiếng.
Lloyd’s List Intelligence, công ty phân tích vận tải biển hàng đầu, cho hay ngay cả khi tàu chiến Mỹ hộ tống tàu dầu đi qua Eo biển Hormuz, sự thận trọng sẽ khiến tốc độ di chuyển giảm đi đáng kể, lưu lượng tàu cũng giảm xuống còn 10% so với thông thường. Với tỷ lệ này, họ cho rằng sẽ mất hàng tháng để có thể giúp giải tỏa hơn 600 tàu thương mại mắc kẹt trong Vùng Vịnh.
Dù vậy, nỗ lực đó vẫn tồn tại nhiều rủi ro. Giới quan sát cho rằng Iran có thể tung ra những đòn giáng mạnh, làm hư hại hoặc thậm chí đánh chìm các tàu chiến và tàu thương mại. Tên lửa hành trình diệt hạm của họ có tính cơ động cao và có thể di chuyển nhanh chóng để thực hiện các cuộc tấn công kiểu “đánh rồi rút”.
Eo biển Hormuz. Đồ họa: WSJ
Triển khai bộ binh
Một lựa chọn quân sự mang tính quyết liệt hơn là đột kích hoặc kiểm soát dải đất ven biển ở miền nam Iran, đảm bảo lực lượng nước này không thể giám sát hay khai hỏa vào tàu thuyền đi qua Eo biển Hormuz.
Tuy nhiên, phương án này đòi hỏi Mỹ sẽ phải triển khai hàng nghìn binh sĩ và tiến hành chiến dịch trên bộ kéo dài nhiều tháng. Khi đó, bộ binh Mỹ sẽ phải đối mặt với các cuộc tấn công từ một Iran đang quyết chiến đấu để bảo vệ sự tồn vong của đất nước.
Phương án đột kích sẽ bắt đầu bằng các cuộc tập kích quy mô lớn dọc theo đường bờ biển. Tiếp sau đó là quân đội Mỹ đổ bộ vào miền nam Iran, khả năng cao nhất là thủy quân lục chiến thực hiện cuộc tấn công đổ bộ lên khu vực địa hình đồi núi, hiểm trở.
Lực lượng Mỹ có thể phải tiến hành nhiều cuộc đột kích để phá hủy các bệ phóng UAV và tên lửa của Iran. Song giới quan sát cảnh báo Iran có thể áp dụng chiến thuật “mèo vờn chuột”, rút quân khỏi khu vực rồi quay trở lại khi lực lượng Mỹ đã rời đi.
Mọi binh sĩ Mỹ xuất hiện trên lãnh thổ Iran đều sẽ trở thành mục tiêu. Mỹ sẽ cố gắng áp chế bộ binh Iran bằng các cuộc không kích để giữ họ tránh xa lực lượng đổ bộ, song các cuộc giao tranh trực tiếp vẫn có thể xảy ra, theo giới phân tích quân sự.
IRGC, với quân số 190.000 người, cùng lực lượng Quds tinh nhuệ của họ vốn chuyên về chiến tranh bất đối xứng sẽ là mối đe dọa đáng gờm với bộ binh Mỹ.
“Nếu bắt đầu với lực lượng đặc nhiệm có số lượng ít, Mỹ nhiều khả năng sẽ cần thêm lực lượng để bảo vệ họ. Lầu Năm Góc phải quyết định xem liệu sẽ chấp nhận những gì đã đạt được hay tiếp tục lún chân sâu hơn”, Daniel Byman, cựu cố vấn cấp cao của Bộ Ngoại giao và quan chức tình báo Mỹ, nói.
Để đảm bảo an toàn cho tuyến hàng hải, quân đội Mỹ có thể phải đồn trú tại Iran trong nhiều tháng hoặc lâu hơn.
“Bạn cần thời gian để lập kế hoạch, để làm suy yếu năng lực của họ. Nếu muốn tiếp quản phía lãnh thổ giáp eo biển, bạn còn phải làm suy yếu hệ thống chỉ huy và kiểm soát của IRGC”, Danny Citrinowicz, cựu phụ trách vấn đề Iran thuộc cơ quan tình báo quốc phòng Israel, cho biết.
Tàu hàng từ Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) hướng về Eo biển Hormuz ngày 15/3. Ảnh: AP
Thuyết phục các hãng vận tải
Việc kiểm soát bờ biển dọc theo eo biển sẽ không giúp loại bỏ hoàn toàn các mối đe dọa của Iran đối với ngành vận tải biển, theo giới quan sát. Iran sở hữu các tên lửa và UAV tầm xa hơn, có thể khai hỏa vào Vùng Vịnh từ sâu trong nội địa.
Cơ quan Điều phối Thương mại Hàng hải Anh (UKMTO) ngày 15/3 cho biết an ninh Eo biển Hormuz vẫn “nghiêm trọng”, dù chưa ghi nhận vụ tấn công nào trong 3 ngày qua.
Kể từ khi cuộc chiến nổ ra ngày 28/2, Iran đã nhận trách nhiệm về nhiều vụ tấn công tàu thuyền trong và quanh tuyến đường này, trong đó có một tàu của Thái Lan. Các lực lượng thân Iran cũng tập kích tàu chở dầu neo đậu tại Iraq vào giữa tuần trước, gây thiệt hại nghiêm trọng.
Việc không thể loại bỏ hoàn toàn mối đe dọa tấn công từ Iran sẽ khiến các hãng vận tải khó có thể tin tưởng để sử dụng eo biển này. Iran đã thực hiện hơn hai chục cuộc tấn công vào tàu thuyền kể từ ngày đầu tiên xung đột hôm 28/2, gây hư hại một số tàu trong Vùng Vịnh.
Giới phân tích chỉ ra chỉ khi giao tranh với Iran kết thúc, cùng với việc chính phủ Iran cam kết ngừng tấn công tàu thuyền ở Vịnh Ba Tư, lưu lượng giao thông bình thường qua eo biển, với hơn 100 tàu mỗi ngày, mới có thể khôi phục.
“Bạn sẽ phải thuyết phục các công ty bảo hiểm và vận tải rằng việc đi qua eo biển là đủ an toàn”, Mick Mulroy, cựu phó trợ lý bộ trưởng quốc phòng phụ trách Trung Đông, nhận định.
Thanh Tâm (Theo WSJ, Reuters, NY Times)
Nguồn: https://vnexpress.net/my-co-the-mo-cua-eo-bien-hormuz-the-nao-5050802.html

