Iran tuyên bố phong tỏa Hormuz (Ảnh: AFP).
Trong gần 2 tuần qua đã có cảnh báo rằng cuộc chiến với Iran sẽ làm tê liệt hoạt động vận tải qua Vịnh Ba Tư. Tổng thống Mỹ Donald Trump hứa sẽ triển khai hải quân hộ tống tàu qua eo biển “sớm nhất có thể”, khẳng định Mỹ sẽ bảo đảm dòng chảy năng lượng tự do cho thế giới. Mặc dù vậy, đến nay, Hải quân Mỹ vẫn từ chối thực hiện một sứ mệnh mà họ cho là vẫn tiềm ẩn quá nhiều rủi ro như vậy.
Tehran cũng tuyên bố sẽ tiếp tục leo thang. Các chỉ huy quân sự Iran cảnh báo giá dầu có thể tăng lên 200 USD/thùng khi chiến thuật chuyển từ “đòn đánh đáp trả” sang tấn công liên tục vào tàu thương mại.
Ít nhất 16 tàu đã bị Iran tấn công kể từ khi xung đột bắt đầu. Tehran cũng công bố một đoạn video cho thấy khoảnh khắc mà họ nói là một tàu chở dầu bị tấn công ngoài khơi Iraq, với hậu quả nghiêm trọng.
Eo biển Hormuz đang nhanh chóng trở thành “địa ngục” đối với mọi con tàu dám đi qua. Dù quân đội Mỹ đã triển khai khoảng 50.000 binh sĩ trong khu vực, các chuyên gia cảnh báo việc bảo đảm an toàn cho tuyến hàng hải này sẽ cực kỳ khó khăn vì Iran đã chuẩn bị cho kịch bản này suốt nhiều thập niên.
Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) tuyên bố đã tấn công các tàu ở eo biển Hormuz khi họ phớt lờ cảnh báo dừng lại. Tư lệnh hải quân Alireza Tangsiri nói rằng mọi tàu muốn đi qua đều phải xin phép Iran.
Theo ước tính, hơn 3.000 tàu, 20.000 thủy thủ đang mắc kẹt hoặc bị ảnh hưởng trong Vùng Vịnh chờ vượt qua “nút thắt cổ chai” Hormuz, khoảng 4% thương mại hàng hải toàn cầu đang bị đình trệ.
Peter Aylott của Phòng Vận tải biển Anh cho biết số tàu qua eo biển đã giảm từ 100 tàu/ngày xuống còn dưới 5, phần lớn là tàu Iran.
Loạt tàu thương mại bị tấn công gần eo biển Hormuz (Đồ họa: UKMTO).
Vòng phong tỏa “địa ngục”
Iran tuyên bố sẽ tiếp tục phong tỏa Hormuz cho đến khi Mỹ và Israel ngừng xung đột và bồi thường thiệt hại. Câu hỏi đặt ra là Iran sở hữu những vũ khí nào để biến phong tỏa eo biển chiến lược này.
Trước tiên, Iran được cho là có hơn 5.000 quả thủy lôi và khoảng 1.000 tàu có thể triển khai để kiểm soát eo biển Hormuz. Nhiều trong số đó là các thuyền gỗ đánh cá truyền thống gọi là dhow, có thể nhanh chóng thả thủy lôi nhưng khó phân biệt với tàu cá dân sự.
Các nguồn tin tình báo Mỹ cho biết Iran có thể đã thả hàng chục quả thủy lôi trong eo biển những ngày gần đây, nhưng phần lớn tàu nhỏ của họ vẫn chưa được sử dụng.
Khả năng Iran rải thủy lôi chống hạm tại eo biển Hormuz ngày càng được chú ý khi xung đột kéo dài. Những vũ khí này từng phổ biến trong Thế chiến II khi được sử dụng trong các bãi thủy lôi khổng lồ và có thể gây nguy hiểm nghiêm trọng cho tàu thuyền đi qua vùng biển tranh chấp.
Iran sở hữu các thủy lôi tiếp xúc phát nổ khi tàu chạm vào. Một mối đe dọa tinh vi hơn là loại thủy lôi nằm dưới đáy biển và chờ tàu đi qua phía trên. Khi phát hiện mục tiêu bằng cảm biến, chúng sẽ phóng ra một đầu đạn giống ngư lôi. Các thủy lôi này có thể được thả từ tàu mặt nước hoặc từ tàu ngầm cỡ nhỏ.
Một mối đe dọa khác ở eo biern Hormuz ở giai đoạn căng thẳng là từ xuồng không người lái (USV). Đây là những phương tiện nhỏ không có người điều khiển hoạt động trên hoặc ngay dưới mặt nước, khiến việc phòng thủ chống lại chúng trở nên khó khăn, đặc biệt vào ban đêm. Vào tháng 1 năm ngoái, đoạn video do Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran công bố được cho là cho thấy những phương tiện như vậy trong một đường hầm ngầm.
USV có khả năng mang thuốc nổ và đã được sử dụng trong ít nhất 2 cuộc tấn công vào tàu chở dầu trong khu vực kể từ khi xung đột nổ ra.
Ngày 1/3, một tàu chở dầu bị đánh trúng cách bờ biển Oman hàng chục km, khiến một thành viên thủy thủ đoàn thiệt mạng. Vài ngày sau, tàu chở dầu thô treo cờ Bahamas mang tên Sonangol Namibe cũng bị tấn công gần cảng Khor al Zubair của Iraq. Video được đăng tải trực tuyến cho thấy một vật thể giống xuồng không người lái lao vào thân tàu, gây ra vụ nổ và cột khói lớn bốc lên trời.
Tàu chở dầu bốc cháy ở Vịnh Ba Tư (Video: RT)
Trong khi đó, các máy bay không người lái trên không (UAV) của Iran cũng được phát hiện hoạt động. Chuyên gia Sidharth Kaushal từ Viện Nghiên cứu Chính sách Quốc phòng Hoàng gia Anh (RUSI) cho biết chúng có thể gây rủi ro thấp hơn đối với bản thân con tàu nhưng vẫn gây nguy hiểm cho thủy thủ đoàn và tạo tác động tâm lý lớn.
Ngoài ra, Iran còn sở hữu kho tên lửa chống hạm của họ, vũ khí mà Iran đến nay chưa sử dụng nhiều. Các loại này bao gồm phiên bản Iran của tên lửa Trung Quốc C-802 hoặc tên lửa nội địa Kheibar Shekan.
Theo giới phân tích, Iran có thể đã đạt được mục tiêu chiến lược trước mắt khi eo biển Hormuz trên thực tế đã bị đóng lại, song tình hình có thể thay đổi nếu có nỗ lực buộc tàu thương mại đi qua tuyến đường này dưới sự hộ tống quân sự của Mỹ hoặc đồng minh.
Một “vũ khí” khác để Iran kiểm soát Hormuz là thiết bị gây nhiễu GPS, hay chính xác hơn là gây nhiễu hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu (GNSS). Eo biển Hormuz vốn đã là điểm nóng của nhiễu điện tử ngay cả trước khi xung đột nổ ra, ảnh hưởng không chỉ đến tàu thương mại mà cả các máy bay bay qua khu vực.
Công nghệ này có thể được sử dụng để quấy rối đối thủ, nhưng thường được dùng như biện pháp phòng thủ chống lại máy bay không người lái. Theo chuyên gia Ramsey Faragher Viện Nghiên cứu Hàng hải Hoàng gia Anh, nhiều quốc gia có thể đang sử dụng công nghệ này trong khu vực. Ông cho rằng có thể Iran đã tăng cường các nguồn gây nhiễu của mình, đồng thời các quốc gia láng giềng cũng kích hoạt hệ thống tương tự để phòng thủ trước các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái.
Việc làm gián đoạn tín hiệu định vị được xem là một trong những biện pháp phòng thủ rẻ và hiệu quả nhất chống lại thiết bị không người lái.
Các bản đồ theo dõi nhiễu GPS cho thấy các điểm nóng xuất hiện trên bầu trời Oman và Các tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE), những quốc gia nằm trong số các mục tiêu bị Iran tấn công kể từ khi xung đột bắt đầu.
Trên hệ thống theo dõi tàu toàn cầu VesselFinder, các cụm tàu xuất hiện dưới dạng những hình dạng hình học bất thường, điều này nhiều khả năng là do nhiễu GPS chứ không phải vị trí thực tế của chúng.
Liệu Mỹ có phá được vòng phong tỏa?
Tư lệnh CENTCOM, Đô đốc Brad Cooper (Ảnh: CENTCOM).
Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ Dan Caine cho biết Mỹ đang xem xét “một loạt lựa chọn” để bảo đảm dòng chảy dầu mỏ, nhưng không cung cấp nhiều chi tiết.
Trong khi đó, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent ngày 12/3 cho biết Hải quân Mỹ và có thể cùng với một liên minh quốc tế sẽ bắt đầu hộ tống các tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz ngay khi “khả thi về mặt quân sự”.
Theo ông Bessent, Mỹ đã tiến hành “phân tích các kịch bản trong nhiều tháng, nhiều tuần trước khi bước vào” cuộc chiến này, liên quan đến tác động của nó đối với vận chuyển dầu mỏ.
Cho đến hôm qua, Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Chris Wright khẳng định hải quân nước này chưa thể lập tức hộ tống các tàu qua eo biển Hormuz.
Các chuyên gia cho rằng, một chiến dịch hộ tống quân sự đòi hỏi Mỹ phải giám sát liên tục, bảo vệ bằng máy bay và trực thăng, khống chế hệ thống phòng không và tên lửa ven bờ Iran. Họ nhấn mạnh rằng điều này không thể thực hiện chỉ trong vài ngày.
Mỹ từng làm điều này trước đây. Trong cuộc chiến giữa Iran và Iraq vào thập niên 1980, các tàu chiến Mỹ đã hộ tống tàu chở dầu của Kuwait đi qua Vịnh Ba Tư để bảo vệ chúng khỏi các cuộc tấn công của Iran. Chiến dịch đó kéo dài hơn một năm từ 1987 đến 1988.
Các tàu chiến Mỹ có thể một lần nữa đóng vai trò “vệ sĩ trên biển”. Theo các chuyên gia hàng hải của Lloyd’s List, một chiến dịch hộ tống cơ bản sẽ cần khoảng 8 đến 10 tàu khu trục để bảo vệ 5 đến 10 tàu thương mại.
Ưu tiên trước mắt sẽ là đưa những con tàu đang mắc kẹt trong khu vực ra khỏi eo biển, trước khi chuyển sang bảo vệ các tàu đang trên đường tới.
Phó đô đốc Hải quân Mỹ đã nghỉ hưu Robert Murrett, hiện là giáo sư tại Đại học Syracuse, cho biết một lực lượng hộ tống có thể được triển khai trong thời gian ngắn nhưng “rất phức tạp”.
Thủy lôi của Iran sẽ là trở ngại lớn. Đây là loại vũ khí mà Hải quân Mỹ từng chứng kiến sức tàn phá của nó trước đây.
Năm 1988, trong chiến dịch bảo vệ tàu Kuwait, một tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường của Mỹ đã trúng thủy lôi Iran ở Vịnh Ba Tư. Vụ nổ xé toạc thân tàu, khiến 10 thủy thủ bị thương và con tàu suýt bị chìm. Sau đó, Mỹ đã đáp trả mạnh mẽ bằng cách tấn công các giàn khoan dầu của Iran và một nửa lực lượng hải quân đang hoạt động của Iran khi đó.
Mỹ vừa cho nghỉ hưu các tàu rà phá thủy lôi lớp Avenger, những tàu đã hoạt động ở Trung Đông suốt nhiều thập niên. Điều này đặt ra câu hỏi về việc Hải quân Mỹ sẽ làm thế nào để bảo đảm các tàu chở dầu không va phải các thiết bị nổ dưới nước.
Các tàu chiến ven bờ của Mỹ vẫn có một số khả năng chống thủy lôi, nhưng chưa rõ liệu chúng có đủ năng lực hay không.
Trực thăng rà phá thủy lôi cũng là một lựa chọn, nhưng thường phải hoạt động cùng với tàu chiến.
Ngoài ra, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ máy bay không người lái đã đưa thiết bị săn thủy lôi không người lái chuyên dụng trở thành một công cụ mới.
Cựu quan chức Lầu Năm Góc Jim Townsend cho biết về lý thuyết, Hải quân Mỹ có thể xử lý tình huống này. “Về nguyên tắc, Hải quân Mỹ có thể làm được. Họ có thể ra đó và hoàn thành nhiệm vụ”, ông nói, nhưng lưu ý điều đó cần “rất nhiều năng lực và rất nhiều thời gian”.
Các yếu tố như lịch bảo dưỡng và vị trí triển khai lực lượng hiện tại cũng có thể làm phức tạp kế hoạch. Ngoài ra còn câu hỏi về cách đối phó với tàu tấn công nhanh của Iran, chưa kể các đoàn hộ tống thường bao gồm tàu chiến của nhiều quốc gia khác nhau.
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã đề xuất một lực lượng hộ tống “hoàn toàn phòng thủ” gồm nhiều quốc gia ở châu Âu và các khu vực khác, nhưng chưa đưa ra thêm chi tiết.
Một phương án khác loại bỏ mối đe dọa thủy lôi trước khi chúng được rải xuống biển.
Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ cho biết họ đã phá hủy 16 tàu rải thủy lôi của Iran gần eo biển Hormuz. Tư lệnh CENTCOM, Đô đốc Brad Cooper, cũng cho hay Mỹ đã tấn công hơn 5.500 mục tiêu của Iran kể từ cuối tháng 2, bao gồm hơn 60 tàu. “Mục tiêu của chúng tôi là chấm dứt khả năng của họ trong việc phô trương sức mạnh và đe dọa hoạt động hàng hải ở eo biển này”, ông nói.
Tuy nhiên, các cuộc tấn công vẫn tiếp diễn. Theo các nhà phân tích, một giải pháp cuối cùng song cũng tiềm ẩn rủi ro xung đột leo thang hơn nữa là hiện diện quân sự trên đất liền, nhằm vô hiệu hóa bệ phóng tên lửa ven biển, cơ sở rải thủy lôi và các lực lượng ủy nhiệm của Iran.
Theo họ, công nghệ và hải quân có thể kiểm soát khủng hoảng trên biển, nhưng an ninh lâu dài của các “nút thắt hàng hải” quan trọng như Hormuz cuối cùng vẫn phụ thuộc vào kiểm soát trên đất liền.
Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho rằng địa hình rộng lớn và nhiều núi non của Iran sẽ khiến một cuộc đổ bộ quân sự trở nên đặc biệt khó khăn.
Hơn nữa, các cuộc thăm dò dư luận cho thấy phần lớn người Mỹ phản đối việc triển khai quân tới Iran. Theo khảo sát của Đại học Quinnipiac công bố trong tuần này, khoảng 74% số người được hỏi phản đối kịch bản đó.
Thư ký báo chí Nhà Trắng Karoline Leavitt tuần trước cho biết các chiến dịch trên bộ “hiện không nằm trong kế hoạch”, nhưng Tổng thống Donald Trump vẫn để ngỏ mọi phương án.
Theo Sky News, NYT
Nguồn: https://dantri.com.vn/the-gioi/my-co-the-pha-vo-phong-toa-cua-iran-o-eo-bien-hormuz-20260313150136478.htm

