MANG THEO KHUNG DỆT KHI SƠ TÁN
Sang tuổi 75, bà Phạm Thị Điền (ở thôn Làng Teng, xã Ba Động, Quảng Ngãi) vẫn ngày ngày cặm cụi bên khung dệt thổ cẩm. Bà chính là “mắt xích” trong việc gìn giữ, trao truyền nghề dệt giữa các thành viên trong gia đình. Hơn 60 năm trước, bà được dì ruột bày cách kéo sợi, nhuộm màu, dệt vải… làm ra tấm thổ cẩm vô cùng đẹp mắt.

Bà Phạm Thị Đin thích thú khi dệt thổ cẩm, vài ngày không dệt là cảm thấy nhớ
Khi lập gia đình, bà Điền được mẹ chồng tận tình chỉ bảo thêm khiến tay nghề ngày càng thuần thục. Sản phẩm làm ra được mua bán, trao đổi với cư dân trong vùng, giúp cả nhà vượt qua những tháng ngày thiếu thốn. Khi quê hương còn chìm trong lửa đạn chiến tranh, gia đình bà cùng dân làng phải tản cư để tránh những cuộc càn quét của địch. Bà cùng những người phụ nữ dân tộc Hrê mang theo khung dệt khi đi sơ tán. Đến nơi ở mới, họ miệt mài dệt cả đêm ngày tạo ra những bộ trang phục thổ cẩm rực rỡ sắc màu trên non cao.
Quê hương thanh bình, bà Điền cùng chồng cần mẫn vun trồng mì, bắp, lúa… trên nương rẫy hay thửa ruộng bậc thang bạc màu bên chân núi. Đêm đêm, bà vẫn bên khung dệt, dẫu thu nhập chẳng đáng là bao. Bà hướng dẫn cách thức dệt thổ cẩm cho cả 4 người con gái của mình. “Nghề dệt gắn bó với dân tộc Hrê chúng tôi từ lâu lắm rồi. Không chỉ riêng tôi, rất nhiều phụ nữ ở đây biết dệt thổ cẩm. Vài bữa không dệt là thấy nhớ lắm”, bà bộc bạch.

Khi rảnh việc đồng áng, chị Phạm Thị Su ngồi dệt thổ cẩm
Hơn 30 năm qua, bà Phạm Thị Đin (54 tuổi, ở thôn Làng Teng) lặng lẽ dệt những tấm vải thổ cẩm. Ngày trước, bà cùng chồng luôn bận rộn chân tay làm nhiều việc để kiếm tiền trang trải cuộc sống gia đình, lo cho 2 con ăn học. Đêm về, bà lụi cụi bên khung dệt cạnh 2 con chăm chỉ học bài. Ngày mưa gió không thể ra ruộng đồng hay lên nương rẫy, bà ngồi dệt say sưa như quên hết sự đời.
Nhiều bữa thả trâu ra đồng, bà Đin mải suy nghĩ về tấm vải đang dệt dở dang vừa rời tay lúc ban trưa. “Lúc trước phải trồng bông vải trên nương rẫy. Khi bông nở rộ phải hái về rồi phơi khô, tách bỏ hạt, nhồi mịn và kéo thành sợi để dệt. Bây giờ chỉ cần mua chỉ về dệt chứ không tốn nhiều công sức như trước. Tiền công từ dệt thổ cẩm ít lắm nhưng nhiều người thích làm chứ không chỉ riêng tôi. Bởi vì chỉ cần nghỉ vài bữa là nhớ”, bà tâm sự.
Chiều nghiêng nắng, bà Phạm Thị Su (42 tuổi, ở thôn Làng Teng) lúi húi nơi hiên nhà với khung dệt thổ cẩm. Cấu tạo khung dệt khá đơn giản với những vật liệu từ lồ ô, tre và gỗ, dễ dàng tìm thấy nơi núi rừng. Bà gắn đầu khung dệt vào đoạn tre buộc chặt giữa 2 cột gỗ, phần cuối khung là thanh gỗ vuông có dây buộc vòng sau lưng. Phần giữa gồm những thanh tre, gỗ và đoạn lồ ô nhằm cố định sợi chỉ và tách các sợi màu để tạo hoa văn… Bà cắm cúi dệt, đôi tay lướt trên tấm thổ cẩm như họa sĩ vẽ bức tranh rực rỡ sắc màu.

Chị Phạm Thị Sung (trái) cùng bạn bè tại gian trưng bày thổ cẩm Làng Teng
Gần 30 năm qua, nhiều tấm thổ cẩm dệt từ đôi tay của bà Su đến với khách hàng ở đôi miền xuôi ngược và ra cả nước ngoài. Bà truyền nghề và cả lòng say mê cho 2 cô con gái. “Con gái nhỏ của tôi chưa rành nghề nên dệt còn chậm. Phải mất 2 tuần, cháu mới dệt xong chiếc khăn, bán với giá 250.000 đồng, trừ tiền chỉ 50.000 đồng thì còn 200.000 đồng. Vậy nhưng con vui lắm, để dành tiền đó mua sách vở, bút mực. Tôi cũng rất vui vì đã truyền nghề cho các con”, bà tâm sự.
RỰC RỠ SẮC MÀU
Thuở trước, thổ cẩm của người Hrê gồm 3 màu chủ yếu: đen, trắng, đỏ tượng trưng cho đất, nước và thần linh. Trong đó, màu đen làm nền chủ đạo. Giờ nhiều người cải tiến cách dệt tạo ra những tấm vải nhiều màu sắc khiến người xem xuýt xoa khen ngợi. Hình ảnh trên thổ cẩm vô cùng sinh động khiến người xem liên tưởng đến cuộc sống của đồng bào vùng cao: cảnh đan lát, chiếc nơm, hình khung hay mái hoặc cầu thang nhà sàn, chim muông…
Từ những tấm thổ cẩm rực rỡ sắc màu, phụ nữ Hrê tạo ra sản phẩm khá đa dạng: váy, áo, khố, khăn, đai địu con, túi xách…

Giáo viên và học sinh tìm hiểu nghề dệt thổ cẩm thôn Làng Teng
Con gái út bà Điền là chị Phạm Thị Sung (34 tuổi) khá năng động trong việc bảo tồn và phát triển nghề dệt thổ cẩm của đồng bào dân tộc Hrê ở Làng Teng. Năm 12 tuổi, chị được mẹ chỉ dẫn cách dệt rồi đam mê từ đó đến giờ. Hơn 10 năm trước, chị tốt nghiệp chuyên ngành công tác xã hội Trường ĐH Quảng Nam. Chị về quê và chưa thể tìm kiếm việc làm nên quyết định gắn bó với nghề dệt thổ cẩm. Chị cải tiến cách dệt, kỹ thuật may để tạo ra những sản phẩm với mẫu mã bắt mắt, chất lượng cao, bắt nhịp cùng thị hiếu của khách hàng trong và ngoài nước.
Chị Sung mở cửa hàng bán sản phẩm thổ cẩm do mình và những người dân trong làng làm ra. Chị còn lập nhiều kênh bán hàng trên mạng xã hội thu hút nhiều người quan tâm. Sản phẩm của chị ngày càng đa dạng, được khách hàng và các cấp, ngành chức năng đánh giá cao; trong đó khăn quàng cổ thổ cẩm đạt chuẩn OCOP 4 sao và váy áo nữ mặc trong lễ hội đạt chuẩn OCOP 3 sao.
“Tôi hướng dẫn các chị trong làng cải tiến kỹ thuật dệt để đáp ứng nhu cầu của khách hàng thì được các chị hưởng ứng. Nhưng có một số nơi dệt bằng máy móc nên ra nhiều sản phẩm, bán với giá thấp hơn. Tôi mong khách hàng hiểu rằng sản phẩm dệt bằng máy kém tinh tế, không mang bản sắc riêng và không có sự sáng tạo của người thợ. Vì vậy, chất lượng sản phẩm dệt bằng máy không thể bằng dệt thủ công nên giá bán thấp hơn là lẽ đương nhiên. Tôi dự định sẽ làm thêm sản phẩm như cà vạt, nơ cài tóc, tranh thổ cẩm; mở rộng không gian ngồi dệt và trưng bày sản phẩm để du khách được trải nghiệm và hiểu hơn về nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Hrê ở nơi này”, chị Sung tâm sự.
Thôn Làng Teng nằm bên dòng sông Liêng, dưới chân Đèo Lâm. Nơi đây hiện có khoảng 40 gia đình (gồm cả mẹ và con gái) dệt thổ cẩm. Nghề dệt thổ cẩm truyền thống của dân tộc Hrê ở thôn Làng Teng được Bộ VH-TT-DL công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2019. Tuy vậy, thu nhập từ nghề dệt thổ cẩm khá thấp nên cuộc sống của bà con gặp nhiều khó khăn. “Tôi và bà con làm nghề dệt thổ cẩm trong thôn mong muốn cấp trên hỗ trợ trang thiết bị phù hợp để việc dệt được nhanh hơn nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng”, ông Phạm Văn Lam (trưởng thôn) bày tỏ.
Theo ông Phạm Văn Néo (nguyên Phó chủ tịch UBND H.Ba Tơ cũ), đến cuối năm 2020, H.Ba Tơ cũ có 50.696 người Hrê cư trú, chiếm tỷ lệ 83,1% dân số toàn huyện. “Hầu hết người Hrê ở Ba Tơ mang họ Phạm theo họ của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, chỉ một số rất ít còn mang họ khác thôi. Mọi người tự hào về điều đó, luôn nỗ lực vượt qua khó khăn, ra sức lao động sản xuất để cải thiện cuộc sống”, ông Néo cho hay.
Nguồn: https://thanhnien.vn/nguoi-hre-mang-ho-pham-nang-long-voi-di-san-tho-cam-18526030218080264.htm

