Cách đây 80 năm, gần 90% cử tri cả nước đã tham gia bỏ phiếu bầu Quốc hội khóa I, nhiều người thực hiện quyền công dân trong điều kiện hiểm nguy đến tính mạng.
Sáng 6/1/1946, Hà Nội bước vào một ngày đặc biệt. Từ sớm, tiếng chuông nhà thờ, trống chùa, pháo hiệu vang lên khắp các khu phố, báo hiệu sự kiện chưa từng có trong lịch sử khi người dân Việt Nam lần đầu trực tiếp đi bầu Quốc hội.
Chỉ hơn 4 tháng sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt với nhiều thách thức. Nạn đói, nạn mù chữ còn nặng nề; chiến sự đã nổ ra ở miền Nam; nguy cơ bị xâm lược, phá hoại hiện hữu tại nhiều nơi. Trong bối cảnh đó, quyết định tổ chức Tổng tuyển cử không đơn thuần là một thủ tục chính trị, mà là cách Nhà nước mới khẳng định tính chính danh, trao cho nhân dân quyền làm chủ vận mệnh quốc gia bằng lá phiếu.
Từ cuối năm 1945, công tác chuẩn bị bầu cử được triển khai rộng khắp. Tại các làng quê, danh sách cử tri và ứng cử viên được niêm yết công khai, tạo không khí sôi nổi hướng tới ngày Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.
Nhân dân lao động Thủ đô cổ động cho ngày Tổng tuyển cử đầu tiên. Ảnh: TTXVN
Quốc hội của mọi tầng lớp
Theo sách Lịch sử Quốc hội Việt Nam của Nhà xuất bản Chính trị, người dân bàn luận, trao đổi, tìm hiểu về những người sẽ đại diện cho mình. Ở nhiều địa phương, Tổng tuyển cử còn tạo nên một chuyển động âm thầm nhưng sâu sắc là phong trào học chữ để đi bầu. Những lớp học ban đêm được mở vội trong đình làng, nhà dân, dưới ánh đèn dầu leo lét.
Người nông dân tập cầm bút, đánh vần từng con chữ. Họ mong đến ngày bầu cử có thể tự tay viết tên người mình chọn, tự mình bỏ lá phiếu mà không phải nhờ người khác. Với nhiều người, đó là lần đầu tiên họ viết chữ trong đời, cũng là lần đầu tiên cảm nhận rõ ràng quyền công dân của một người dân độc lập.
Nhiều người có uy tín trong cộng đồng được quần chúng giới thiệu ra ứng cử. Không ít người tự nguyện đứng trước dân làng, trình bày khả năng và nguyện vọng. Trung ương chủ trương đưa những người có năng lực hành chính, những thân hào có tài, có đức cùng tham gia ứng cử, tạo nên một danh sách mang tính đại diện rộng rãi cho xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.
Quốc hội khóa I hội tụ đại biểu của tất cả các ngành, các giới, các giai cấp, tầng lớp xã hội, từ công nhân, nông dân, nam giới, nữ giới đến các nhà tư sản, công thương gia như Nguyễn Sơn Hà, Trịnh Văn Bô; cùng các nhân sĩ trí thức như Nguyễn Văn Tố, Hoàng Đạo Thúy, Thái Văn Lung, Huỳnh Tấn Phát, Đặng Thai Mai.
Cơ quan lập pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn có đại biểu các tôn giáo như Thiên Chúa giáo với Linh mục Phạm Bá Trực, Phật giáo với Thượng tọa Thích Mật Thể, Cao Đài với Chưởng quản Cao Triều Phát; cùng đại diện nhiều dân tộc như Mường, Tày, Nùng, Thái, Mông, Hán, Ba Na, Ka Tu, Ê Đê, Gia Rai, Khmer.
Quan trọng hơn hết, Quốc hội hội tụ đại biểu của cả ba miền Bắc, Trung, Nam, thể hiện ý chí thống nhất của nhân dân cả nước. Quốc hội cũng có đại diện của mọi thế hệ người Việt Nam yêu nước đương thời, từ những nhà cách mạng lão thành như Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng đến những đại biểu trẻ tuổi đầy nhiệt huyết như Nguyễn Đình Thi, khi đó mới 22 tuổi.
Trong số các đại biểu dân cử còn có Vĩnh Thụy, cựu hoàng Bảo Đại, người vừa tuyên bố thoái vị trước đó 4 tháng để trở thành công dân nước Việt Nam tự do. Bên cạnh đó là những quan lại cao cấp của chế độ cũ như cựu Thượng thư Bùi Bằng Đoàn, những người đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ của cơ quan lập pháp cao nhất đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một lớp học của phong trào bình dân học vụ. Ảnh tư liệu.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chối “được miễn ứng cử”
Tại Hà Nội, có thời điểm 118 chủ tịch ủy ban hành chính cùng đại biểu các giới ở làng xã ngoại thành kiến nghị miễn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh ra ứng cử. Tuy nhiên trong thư gửi đồng bào, Người khẳng định mình là một công dân như mọi công dân khác và không thể đứng ngoài thể lệ Tổng tuyển cử.
Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp ra ứng cử tại Thủ đô nhanh chóng tạo nên không khí phấn khởi trên cả nước. Báo chí cách mạng khi đó giữ vai trò quan trọng. Các báo Cứu Quốc, Sự Thật liên tục thông tin, giải thích thể lệ bầu cử, phản bác các luận điệu xuyên tạc. Đáng chú ý, nhật báo Quốc Hội được xuất bản riêng cho kỳ Tổng tuyển cử nhằm giúp người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời tạo diễn đàn để các ứng cử viên giới thiệu chương trình hành động.
Càng gần ngày bầu cử, không khí càng sôi động. Ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, công tác tuyên truyền, vận động được triển khai bằng nhiều hình thức phù hợp với văn hóa bản địa. Tại các tỉnh miền núi phía Bắc, hàng nghìn người Kinh, Mường, Thái, Tày, Nùng, Dao kéo về tỉnh lỵ, châu lỵ dự mít tinh, cổ động cho Tổng tuyển cử. Những bản làng xa xôi vốn yên ắng trở nên rộn ràng trong tiếng cồng chiêng, trống chiêng đón ngày hội lớn.
Không chỉ trong nước, Việt kiều tại Pháp, Thái Lan, Lào cũng tổ chức mít tinh, gửi thư, gửi điện về quê hương, theo dõi sát sao cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.
Ngày 5/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn dân đi bỏ phiếu, gọi ngày hôm sau là “một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình”. Trong lời kêu gọi, lá phiếu được ví như vũ khí chính trị, thể hiện ý chí độc lập và quyền tự quyết của dân tộc.
Sáng chủ nhật 6/1/1946, các điểm bỏ phiếu tại Hà Nội đồng loạt mở cửa từ 7h. Dòng người nối nhau đi làm nghĩa vụ công dân. Có cụ già bảy, tám mươi tuổi được con cháu cõng đến hòm phiếu; có người mù được người thân dẫn tay để tự mình bỏ phiếu. Công tác tổ chức được chuẩn bị chu đáo, từ lối vào, lối ra đến nơi viết phiếu, soát thẻ, ghi danh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ phiếu tại phòng bầu cử số 10 phố Hàng Vôi, sau đó đi thăm nhiều điểm bỏ phiếu khác trong thành phố.
Bác Hồ chụp ảnh cùng các đại biểu Quốc hội khóa I. Ảnh tư liệu
Những “lá phiếu máu”
Tại một số khu vực, các lực lượng chống đối tìm cách cản trở bầu cử, thậm chí mang theo vũ khí. Tuy vậy, người dân không lùi bước. Không thể bỏ phiếu ở khu vực cư trú, họ tìm sang địa điểm khác để thực hiện quyền công dân.
Theo hồi ký của cố đại biểu Quốc hội khóa I Lâm Quang Thự, tại miền Bắc, một số phần tử Quốc dân đảng đã chĩa súng đe dọa cử tri đi bầu. Ở Hà Nội, chúng mang tiểu liên tới làng Ngũ Xã, không cho đặt hòm phiếu. Tại Phú Thọ, có nơi bị tháo khẩu hiệu, thu thẻ cử tri. Ở miền Trung và Nam Bộ, nhân dân đi bầu cử trong vòng vây súng đạn của thực dân Pháp. Máy bay Pháp ném bom khu vực Mỹ Tho, Khánh Hòa, có nơi chỉ cách điểm bỏ phiếu vài trăm mét. Tại Sài Gòn, hơn 40 cán bộ trong ban tuyên truyền bầu cử đã hy sinh. Lá phiếu của cử tri miền Nam khi ấy được gọi là “lá phiếu máu”.
Sự chống phá không ngăn được người dân xuống đường đi bỏ phiếu với tư cách công dân của một nước tự do, độc lập. Bị khủng bố, nhiều người ôm hòm phiếu di chuyển sang địa điểm khác để tiếp tục bầu cử. Có nơi, ngoài hòm phiếu chính còn bố trí thêm hòm phiếu dự phòng nhằm tránh phá hoại; một số điểm bầu cử được tổ chức bảo vệ vũ trang.
Tại Tây Nguyên, ở buôn Krong Prong (Đăk Lăk), khi người dân đang bỏ phiếu thì bị bao vây, phải rút vào rừng. Trong quá trình bị truy đuổi, họ đi sâu vào khe suối, mang theo lương thực để tiếp tục tổ chức bầu cử.
Trên phạm vi cả nước, 71 tỉnh, thành đã tổ chức Tổng tuyển cử với tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu đạt gần 90%. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời với 333 đại biểu, đại diện cho các tầng lớp xã hội, các vùng miền, dân tộc và tôn giáo.
Theo Lịch sử Quốc hội Việt Nam, Quốc hội đầu tiên được hình thành trong hoàn cảnh đặc biệt, khi đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn và chiến tranh đã cận kề. Từ cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946, người dân Việt Nam lần đầu tiên bước vào đời sống chính trị với tư cách chủ thể, tự mình lựa chọn người đại diện và con đường đi tới tương lai.
Sơn Hà
Nguồn: https://vnexpress.net/ngay-tong-tuyen-cu-dau-tien-cua-nuoc-viet-nam-4999696.html

