Với 7 tập thơ đã xuất bản, nhà thơ Ngô Đức Hành (Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội) vừa ra mắt tập thơ thứ 8 là Gọi đồng – tên tập thơ gợi lên nỗi nhớ về cội nguồn, về tình quê sâu đậm.
Tập thơ “Gọi đồng” của tác giả Ngô Đức Hành (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Bố cục 3 phần trong tập thơ theo dòng cảm xúc: Mạch nguồn, Gọi đồng, Điều giản dị, nhà thơ muốn phân định các mảng đề tài để định hướng trong tiếp nhận tác phẩm, chứ đọc cả tập thơ thì hồn quê đã thấm đẫm trong thi tứ, khó phân biệt đâu là “mạch nguồn” hay là “điều giản dị”.
Đọc thơ anh bất giác tôi nhớ đến những câu thơ của nhà thơ Long Vân: “Tôi sinh ra từ làng/ Tuổi thơ xanh cùng lá/ Tuổi mồ côi vất vả/ Tôi lót lá tôi nằm…” (Tuổi thơ xanh cùng lá).
Hồn quê trong thơ là biểu tượng cho những nét đẹp mộc mạc, giản dị từ tình cảm gia đình, đến nghĩa tình làng xóm. Thi ảnh quen thuộc là luỹ tre, đồng lúa, cánh cò, là tiếng ru của mẹ, tiếng gọi của cha, là truyền thống văn hoá lễ hội thân thương, gần gũi.
Hồn quê trong Gọi đồng có sức lay động mạnh mẽ, gợi lên tình cảm thân thương giữa độc giả với nhà thơ bởi những kí ức và kỉ niệm đẹp. Đó cũng là giá trị nhân văn của tập thơ, bởi đã nuôi dưỡng tình yêu quê hương trong tâm hồn mỗi người, dù có đi xa thì vẫn nhớ đến nguồn cội.
Nỗi nhớ quê hương không chỉ là làng Nghèn “làng trong câu đò đưa/ đàn sáo bay về líu lo cổ tích/ sân đình chiếu hoa, chiếu mộc/ Thành Hoàng nghe hát chầu văn” (Làng tôi); là Trảo Nha “Làng xa xưa tên là Trảo Nha” – định danh rõ ràng, bởi nơi đây là quê gốc của “Ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu; là Hồng Lĩnh “Hồng Lĩnh đại bàng cuồn cuộn mây xa” (Mạch nguồn); mà nơi đó có bóng mẹ “mẹ thân Cò, vạc/ trong lời hát ru…” (Tên mẹ), tên cha “Tên cha quá đỗi thân quen/ nông dân vĩnh cữu lâu bền nhà quê” (Tên cha) và còn có truyền thống lễ hội lâu đời của dòng họ Ngô.
“Tôi hạt cát miền Trung/ Gió Lào ghim vào chiều Hà Nội/ hạt sém gió/ lang thang trên con đường mềm mại ngày xa… Miền Trung quàng lên tôi/ chiều dài bỏng rát/ cát ủ trong tôi cồn cào du mục/ ngày tôi đi cát hiện sinh (Tôi).
Người miền Trung cần cù, chịu khó, thật thà, ngay thẳng, đặc biệt có truyền thống hiếu học, nhờ thế thì “Tôi” mới “ghim vào chiều Hà Nội”, trụ được ở đất nghìn năm văn vật…
Nhà thơ Ngô Đức Hành (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Khẳng định Tôi – hạt cát miền Trung – một kiểu xưng danh đậm chất xứ Nghệ – tự hào nguồn cội, tự hào về mảnh đất tuy nghèo khổ mà là đất “địa linh nhân kiệt”. Tự xưng, tự định danh, tự khẳng định là cái cách mà cái tôi thi sĩ muốn bộc bạch trong thế giới thi ca.
Cái nghèo, cái khó của người miền Trung anh không che đậy, thi vị hoá mà thấm trong anh nỗi nhớ cồn cào: “Dâu da xoan bốn mùa gọi gió/ xanh trẻ thơ/ anh yêu ngõ nghèo/ chở che hồn phố/ Anh thường về ngồi dưới bóng xoan/ gọi tên em/ khi anh đói lòng/ sau cây Dâu da có hàng Cơm nguội…” (Ngõ nhà anh).
Đọc bài thơ mà cảm xúc trôi chảy trong vô thức, trong tiềm thức và ý thức chợt vỡ oà, ước một lần đến ngõ nhà anh, hồi tưởng cái dáng học trò chân đất của anh, dẫu nghèo “bát cơm chan gió mưa/ gió Lào hất tung từng hạt/ nước mắt mồ hôi đều mặn/ thay muối rang lên ăn tạm qua ngày…” thì anh vẫn ước ngày vu quy anh trèo lên hái quả và lấp lánh trong anh một tình yêu đằm thắm “Bóng em và bóng nắng/ trải bốn mùa quang phổ ngày xưa”.
Thơ là giản dị vậy thôi, thơ đưa người đọc trở về cái thuở ngày xưa, cái thời mà em đi qua ngõ nhà anh, chân bước ngập ngừng, thơ anh thấm đậm đặc trưng của cái nghèo, cái khổ miền Trung. Là người miền Trung, mang căn cước miền Trung hẳn ai cũng mang trong mình một vùng kí ức về gió Lào, cát trắng, với bóng mẹ dáng cha tảo tần khuya sớm: “Lưng cha lấm đất quanh năm/mẹ như dẻ lúa mà thành quê thôi/ mùa đông buốt cả nụ cười/ mùa hè phơi giọt mồ hôi trên đồng” (Mẹ cha)
Thơ anh trôi chảy trong cảm xúc dồi dào tựa sóng ngầm. Cảm xúc thơ phong phú, đầy đặn và mạnh mẽ. “Đồng làng/ nuôi tôi lớn lên/ con cá thia lia, con tôm, con tép/ gọi đồng như gọi mẹ cha” (Gọi đồng).
Đây là bài thơ được lấy tên làm tựa đề cho tập thơ, cũng là cách nhà thơ khẳng định sự gắn bó sâu sắc, tình cảm thân thuộc và coi cánh đồng quê như cội nguồn, như gia đình. Cánh đồng không chỉ là một phần của quê hương mà còn là một phần thiêng liêng của cuộc đời mình.
Sóng ngầm trong thơ anh tuy mạnh mẽ nhưng không ồn ào, thể hiện dòng cảm xúc được kiểm soát, có chiều sâu và không dễ dàng bộc lộ ra bên ngoài. “Tôi thắp hương bụi tre làng đã khuất/ tiếng điếu cày cha tôi/ chiếc đòn gánh mẹ tôi/ và chiếc gậy ông bà thuở trước… Hồn tre về lao xao/ làng bỏ guốc xỏ giày lên thành phố/ chiếc phên xưa hẹn hò/ em chống rèm làm câu thơ mắc cỡ/ Tôi đi về phía xưa/ gặp hồn tre về đòi người món nợ/ tre lấn biển che làng/ lợp tâm hồn bằng tiếng ru êm…” (Hồn tre).
Thi tại ngôn ngoại. Một bài thơ mà ẩn chứa biết bao ý tứ sâu xa trong đó, có những suy ngẫm bật ra trong vô thức về mối liên hệ giữa văn hoá – cội nguồn và tiếp biến.
Thơ Ngô Đức Hành có giọng riêng, giọng của người gốc Trảo Nha, làng Nghèn. Đọc thơ anh có thể biết được cá tính, thái độ và cảm xúc của anh. Nếu nghiên cứu hành trình sáng tạo trong thơ anh có thể tìm ra những nét phong cách đặc trưng, do chỉ tiếp nhận tác phẩm thơ mới này, tôi chỉ bàn đến một vài đặc trưng tiêu biểu của giọng thơ mang nét hồn quê.
Để có giọng thơ riêng, anh có lối kết hợp nhuần nhuyễn giữa lựa chọn ngôn ngữ và trong thi tứ anh thường sử dụng lối cấu tứ liên tưởng, đồng hiện, mở rộng. Chỉ là tứ trong bài thơ Gọi đồng mà người đọc nhận ra nỗi đau đáu nhớ quê trong anh và cả với những người xa quê.
Hay trong các bài thơ: Dong riềng và mẹ, Nhìn hoa cà nhớ mẹ, Ngày nào cũng là ngày của cha, Cây mít tổ… gợi biết bao nhớ nhung, thương xót về cha mẹ, tổ tiên, làng xóm.
“Mẹ tựa dong riềng/ lay lắt lớn lên vượt qua ngày ấy/ cây nở bông vẫy gọi/ gian khổ đắng cay thành gia vị người…” (Dong riềng và mẹ), tứ thơ gợi nhớ biết bao năm tháng nhọc nhằn của người mẹ tảo tần, cây dong riềng là ẩn dụ cho sức sống mạnh mẽ, kiên cường và khả năng vượt qua khó khăn. Viết về mẹ, về cây cối thân quen trong vườn nhà, nhà thơ đã bày tỏ cảm xúc dạt dào về sự gắn kết kỉ niệm tuổi thơ và tình yêu quê hương.
“Mình thơ thẩn cả chiều trước khi về Hà Nội/ loanh quanh khu vườn/ nơi này mẹ khi xưa trồng chuối, trồng chanh/ nơi này cha vun vồng khoai, luống lạc/ tháng ba chuyển mùa gió mát/ tre đằng ngà ví giặm đò đưa” (Chiều ở quê). Chiều ở quê yên bình, là nơi mọi lo toan có thể tạm gác lại, là nơi trở về mỗi khi để quên đi mọi muộn phiền, bon chen nơi phố thị.
Thân thuộc và giản dị mà ấm áp trái tim: “Gắp cho em một miếng trời xanh/ sông núi quê hương thân thương thúc hối/ bóng mẹ, dáng cha, tiếng bà nội gọi: cháu ơi, về ăn cơm?” (Ký ức quê nhà).
“Con chữ rưng rưng/ chảy ra từ trái tim có nhiều cung bậc/ ờ nhỉ/ không chỉ cần sống kỹ với mình mà cả cuộc đời/ con chữ của mình mới dễ chạm trái tim” (Giản dị). Bài thơ cuối trong tập thơ cũng là lời bộc bạch của thi nhân, như là tuyên ngôn của một tính cách chân thành, giàu cảm xúc.
Thơ của anh xuất phát từ trái tim, không hoa mỹ, khoa trương, mà diễn đạt hết sức tự nhiên, tạo cảm giác thân thuộc, dễ đồng cảm. Thơ anh chạm đến tâm hồn người đọc bởi hồn quê thấm đẫm trong thi tứ qua những hình ảnh, cảm xúc quen thuộc, gần gũi.
TS.Hoàng Thị Thu Thuỷ
Nguồn: https://dantri.com.vn/giai-tri/nha-tho-ngo-duc-hanh-tham-tham-ky-uc-trong-goi-dong-20260110132613036.htm

