LTS: Sáng 7-4, Quốc hội khóa XVI đã thông qua nghị quyết bầu Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031 đối với đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIV, đại biểu Quốc hội khóa XVI. Đây là sự kiện có ý nghĩa chính trị rất lớn, được đông đảo công chúng quan tâm, đặc biệt đối với việc nhất thể hóa hai chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước. Báo Pháp Luật TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết của TS – nhà báo Nhị Lê, nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, xung quanh sự kiện đặc biệt quan trọng này.

Lịch sử dân tộc Việt Nam là một dòng chảy không ngừng nghỉ của sự tự cường, biến đổi và phát triển không ngừng phù hợp với thời đại.
Khi chúng ta đứng trước ngưỡng cửa thập niên thứ ba của thế kỷ 21, soi rọi vào dặm dài 40 năm đổi mới, một câu hỏi lớn mang tính thời đại đang đặt ra: Làm sao để bộ máy vận hành quốc gia không chỉ là một cỗ máy hành chính đơn thuần, mà phải là một thực thể sống động, tinh gọn, nhạy bén và đầy quyền năng để dân tộc vận hành trong kỷ nguyên mới?
Câu trả lời, xét từ góc độ tổ chức học và khoa học chính trị, chính là nhất thể hóa các chức danh lãnh đạo và quản trị. Đây không còn là một lựa chọn lý thuyết, mà là một mệnh lệnh thực tiễn, một cuộc cách mạng về phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng nhằm xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại và phù hợp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Thống nhất – cội nguồn sức mạnh
Trong tư duy phương Đông, “nhất” là khởi đầu, là sự thống nhất toàn vẹn. Một quốc gia muốn mạnh, “trăm sông phải về một biển”, ý chí và hành động phải kết tinh thành một khối thống nhất. Nhìn lại lịch sử trị quốc của cha ông, sự thống nhất giữa tư tưởng và hành trị luôn là cái gốc của sự hưng thịnh.
Trong hệ thống chính trị hiện nay, chúng ta vận hành theo mô thức: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Tuy nhiên, sự phân định cơ học giữa “lãnh đạo” và “quản trị”, trong thực tiễn, có thể tạo ra những khoảng trống quyền lực hoặc sự chồng chéo chức năng. Nhất thể hóa chính là việc hợp nhất hai dòng chảy này. Khi người đứng đầu cấp ủy đồng thời là người đứng đầu cơ quan hành chính, chúng ta đang thực hiện quá trình “hóa thân” của Đảng vào trong bộ máy Nhà nước. Đảng không đứng ngoài, không đứng trên một cách hình thức, mà Đảng trực tiếp nhập cuộc, trực tiếp chịu trách nhiệm trước pháp luật và Nhân dân thông qua các chức danh quản trị cụ thể. Đó chính là sự thống nhất giữa “ý Đảng và lòng dân”, giữa nghị quyết và hành động, giữa lãnh đạo, cầm quyền và quản trị, kiến tạo phát triển quốc gia.
Việc nhất thể hóa không phải là một ý tưởng bột phát mà là kết quả của một quá trình chắt lọc, chiêm nghiệm khắc nghiệt qua các kỳ Đại hội của Đảng. Thực tiễn đang đòi hỏi nhất thể hóa không còn là “thí điểm” mà đang trở thành một thiết chế chính trị tất yếu để giải phóng sức sản xuất và sức sáng tạo của dân tộc.
Chúng ta đang đứng trước vận hội mới. Nhất thể hóa các chức danh lãnh đạo và quản trị là cuộc cách mạng về tư duy lãnh đạo, cầm quyền. Về thực tiễn, là cuộc cách mạng về tổ chức để thoát khỏi “bẫy trung bình” về lãnh đạo và quản trị quốc gia. Nếu không dám thay đổi bộ máy vốn đã trở nên chật chội và xơ cứng, chúng ta sẽ lỡ chuyến tàu của lịch sử. Lịch sử phát triển trong bối cảnh mới không có chỗ cho những sự tụt hậu về tầm nhìn hay do dự về thực tiễn. Việt Nam muốn phú cường, phải mạnh từ trong gốc rễ tổ chức.
Nhất thể hóa chính là chiếc chìa khóa để mở cánh cửa vào kỷ nguyên mới – khi ý chí của Đảng và sức mạnh của Nhà nước hòa quyện làm một, tạo thành một khối thống nhất trên nền tảng dân tộc đại đoàn kết không gì phá vỡ nổi.
Với một bộ máy tinh gọn, thống nhất và những người lãnh đạo tầm vóc, chúng ta có cơ sở để tin rằng dân tộc sẽ đứng vững trên đôi chân của mình, kiến tạo nên một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Từ đổi mới tư duy đến đột phá thể chế 80 năm qua
Đây là một vấn đề rất hệ trọng. Nó chạm đến “túi khôn” của lịch sử và là điểm tựa lý luận vững chắc nhất cho công cuộc nhất thể hóa hiện nay. Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh nắm giữ đồng thời chức vụ cao nhất của Đảng (Chủ tịch Đảng) và Nhà nước (Chủ tịch nước) suốt 18 năm không đơn thuần là sự kiêm nhiệm hành chính. Đó là hình mẫu sơ khởi và hoàn hảo nhất của nhất thể hóa, bảo đảm sự thống nhất giữa uy tín của Đảng lãnh đạo, cầm quyền và pháp quyền của Nhà nước. Về phía Đảng, Người là linh hồn, là trí tuệ tập thể, đề ra đường lối chiến lược. Về phương diện Nhà nước, Người là biểu tượng của chủ quyền, là người thực thi ý chí của Nhân dân. Khi hai vị thế ấy hội tụ ở một con người, ý Đảng và lòng dân trở thành một khối thống nhất tuyệt đối. Mọi sắc lệnh Người ký không chỉ có sức nặng của luật pháp mà còn là tầm nhìn, đạo đức cách mạng.
Nhìn sâu hơn, nó giải quyết xung đột giữa “lãnh đạo” và “quản trị”. Trong giai đoạn kháng chiến và kiến quốc đầy cam go, lịch sử không cho phép sự chậm trễ hay chồng chéo. Nếu Đảng chỉ “đứng ngoài” chỉ đạo bằng nghị quyết, rồi Nhà nước lại “vận hành” bằng một quy trình khác, có thể tạo ra độ trễ nghiêm trọng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tại vị ở cả hai chức vụ khẳng định bộ máy vận hành theo cơ chế “lệnh phát ra từ một điểm, sức mạnh tức tập trung về một hướng”. Người lãnh đạo tối cao đồng thời là người quản trị tối cao giúp tinh gọn dòng chảy thông tin và đẩy nhanh tốc độ quyết sách. Đây chính là thực tiễn sống động bác bỏ tư duy chia cắt quyền lực một cách cơ học.

Nhiều người e ngại, nhất thể hóa có dẫn đến độc đoán? Nhưng nhìn vào tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, tỏa sáng một triết lý: Quyền lực tuyệt đối đi kèm với sự tự giác và phụng sự tuyệt đối. Người không dùng quyền lực để tạo ra đặc quyền, mà dùng quyền lực để phụng sự. Nhất thể hóa ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là thâu tóm quyền hành cho cá nhân, mà là tập trung trách nhiệm cao nhất về mình trước quốc dân đồng bào. Đây là bài học vô giá: Nhất thể hóa chỉ thành công khi người đứng đầu có đủ tầm chiến lược và tâm liêm chính. Đó chính là “chiếc lồng” chính trị và đạo đức kiểm soát quyền lực.
Việc nhắc lại giai đoạn 1951-1969 chính là để khẳng định nhất thể hóa không phải là cái gì đó xa lạ, mà nó nằm trong “gen” quản trị của cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là kiến trúc sư và cũng là người thực hành nhất thể hóa vĩ đại nhất. Việc Người giữ hai chức vụ chính là bảo chứng cho sự tồn vong và lớn mạnh của thể chế Dân chủ Cộng hòa trong bão táp cách mạng.
Nhìn lại dặm dài lịch sử Đảng ta từ năm 1986, việc nhất thể hóa không phải là một ý tưởng bột phát, mà là kết quả của một quá trình chắt lọc, chiêm nghiệm và tổng kết thực tiễn khắc nghiệt.
Trong bối cảnh thực hiện các quyết sách của Đại hội XIV, mô hình nhất thể hóa ở cấp cao nhất chính là sự kế thừa có phê phán và nâng tầm lịch sử của đại sự này. Không làm mới cái không có, như ai đó lo ngại, mà đang phục hưng một phương thức lãnh đạo, cầm quyền hiệu quả được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kiểm chứng bằng nhiều thập niên chiến thắng của dân tộc.
Từ những “viên gạch” đầu tiên đó, ngay sau đổi mới, Đảng ta nhận diện rõ sự chồng chéo giữa chức năng lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên, ở giai đoạn này, chủ yếu tập trung vào việc “phân định” rõ vai trò của mỗi phương diện. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa VIII), ngày 18-6-1997, về chiến lược cán bộ trở lại ý tưởng về việc nâng cao hiệu suất bộ máy nhưng sự phân tách cơ học vẫn còn đó.
Và 20 năm sau, bước ngoặt tại Đại hội XII và đặc biệt Nghị quyết 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, về “một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” đã chính thức đặt vấn đề nhất thể hóa lên bàn nghị sự với thái độ quyết liệt nhất. Đây là dấu mốc lịch sử. Đây là cuộc đại phẫu thuật chính cơ thể mình. Việc thí điểm nhất thể hóa chức danh bí thư đồng thời là chủ tịch UBND ở những nơi có điều kiện không còn là tiếng nói đơn lẻ. Các mô hình tại Quảng Ninh, Long An, hay một số địa phương miền Trung đã chứng minh: Nhất thể hóa là con đường ngắn nhất để đưa nghị quyết vào cuộc sống. Nhưng do nhiều lý do, vấn đề đó chưa trở thành quyết tâm chính trị của toàn Đảng.
Có thể hình dung, nếu giai đoạn định hình (Đại hội VI-X) bắt đầu nhận diện sự chồng chéo giữa chức năng lãnh đạo và quản lý, với Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa VIII) bắt đầu ý tưởng về nâng cao hiệu suất bộ máy nhưng sự phân tách cơ học vẫn còn nặng nề thì bước ngoặt lịch sử (Đại hội XII) với Nghị quyết 18-NQ/TW, Đảng thực hiện một cuộc “đại phẫu thuật” vào chính cơ thể mình.
Từ Đại hội XIII và tầm nhìn XIV: Chuyển từ “thí điểm” sang “thiết chế”. Nếu trước đây còn e dè, vừa làm vừa dò đá qua sông thì nay thực tiễn đã trả lời. Đại hội XIV là thời điểm để “định danh” mô hình này như một đặc trưng của quản trị Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Việc nhất thể hóa không phải là một ý tưởng bột phát mà là kết quả của một quá trình chắt lọc, chiêm nghiệm khắc nghiệt qua các kỳ Đại hội của Đảng. Thực tiễn đang đòi hỏi nhất thể hóa không còn là “thí điểm” mà đang trở thành một thiết chế chính trị tất yếu để giải phóng sức sản xuất và sức sáng tạo của dân tộc.•
Tạo ra những hiệu ứng tích cực
Trong dòng chảy của đổi mới, không có thành công nào tự nhiên đến, nếu thiếu đi sự dũng cảm từ những bước chân tiên phong. Nhìn vào “hiện tượng” Quảng Ninh – vùng đất mỏ anh hùng nhưng cũng đầy năng động – từng thấy hình bóng của một mô hình quản trị tương lai. Tại đây, việc nhất thể hóa chức danh bí thư đồng thời là chủ tịch UBND cấp huyện, xã không còn là thí điểm trên mặt giấy, mà đã trở thành hơi thở của đời sống chính trị.
Thứ nhất, hiệu ứng “một người chèo lái – một con đường”. Khi bí thư đồng thời là chủ tịch, khoảng cách giữa nghị quyết của Đảng và quyết định của chính quyền bằng không. Không còn cảnh cấp ủy ra nghị quyết rồi chính quyền loay hoay tìm cách thực hiện, thậm chí tệ hơn là trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Sự nhất thể hóa đã tạo ra một xung lực chỉ đạo tập trung, giúp các dự án hạ tầng ngàn tỉ đồng, các chính sách an sinh xã hội được thông qua và triển khai thần tốc.
Thứ hai, sự tinh gọn từ gốc rễ. Nhất thể hóa phải là “gộp hai cái ghế thành một”. Nó là sự hợp nhất các cơ quan tham mưu, giúp việc. Kết quả là gì? Một bộ máy không còn chồng chéo, một đội ngũ cán bộ không còn cảnh sáng họp bên Đảng, chiều họp bên chính quyền. Đó chính là sự giải phóng nguồn lực, giảm bớt gánh nặng ngân sách để tập trung sức mạnh cho phát triển.
Thứ ba, bài học về sự dấn thân. Thực tiễn từ các địa phương thí điểm cho thấy nhất thể hóa đòi hỏi người cán bộ phải có một bản lĩnh chính trị vững vàng và một kỹ năng hành chính thành thạo. Đây chính là môi trường để rèn luyện cán bộ, khắc phục tình trạng quan cách, vô trách nhiệm. Quảng Ninh chính là minh chứng hùng hồn nhất.
Thứ tư, hiệu ứng “vết dầu loang”. Từ thành công của Quảng Ninh, các địa phương như Long An, Kiên Giang hay một số huyện đảo đã thực hiện. Kết quả cho thấy bộ máy tinh gọn giúp giảm 20%-30% các khâu trung gian, tiết kiệm hàng ngàn tỉ đồng ngân sách cho đầu tư phát triển. Quan trọng hơn, niềm tin của Nhân dân tăng lên khi họ biết rõ ai là người chịu trách nhiệm cho sự hưng thịnh hay trì trệ.
Tinh hoa quản trị và bản sắc Việt Nam
Khi bàn về nhất thể hóa, không thể tự nhốt mình trong một ốc đảo. Thế giới trải nghiệm nhiều mô hình quản trị và sự hội tụ giữa lãnh đạo chiến lược và điều hành thực thi là một xu thế không thể đảo ngược của các quốc gia hưng thịnh.
Nếu nhìn vào bài học từ các quốc gia Đông Á, có thể thấy mô hình Trung Quốc: Việc nhất thể hóa từ cấp Trung ương đến địa phương tạo ra một sức mạnh tổng lực giúp quốc gia này thực hiện những bước nhảy vọt về kinh tế. Sự thống nhất giữa Tổng Bí thư và Chủ tịch nước, giữa Bí thư tỉnh ủy và Chủ tịch HĐND tỉnh tạo ra một hệ thống chỉ huy thông suốt, không có độ trễ.
Hay như mô hình Singapore: Dù theo chế độ đa Đảng nhưng cách thức vận hành của Đảng Hành động Nhân dân (PAP) cho thấy sự hòa quyện tuyệt đối giữa bộ máy Đảng và bộ máy Chính phủ. Ông Lý Quang Diệu xây dựng cơ chế mà ở đó người giỏi nhất của Đảng đồng thời là người điều hành trực tiếp bộ máy quốc gia.
Khi cân nhắc sự khác biệt về bản sắc, có thể thấy nhất thể hóa của Việt Nam mang đặc thù của một Đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền nhưng dựa trên nền tảng “dân là gốc” để tối ưu hóa sức mạnh thống nhất. Không phân lập quyền lực để làm yếu đi Nhà nước, mà phân công theo hướng tập trung quyền lực để thực hiện mục tiêu thống nhất phát triển với tốc độ và cường độ cao, dưới sự giám sát tối cao của Nhân dân và kỷ luật của Đảng. Một người lãnh đạo phải là một nhà chính trị có tư duy quản trị trong một nhà quản trị có nhãn quan chính trị.
Nhất thể hóa chính là sự chuyên nghiệp hóa đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, sao cho mỗi người lãnh đạo thành một vị tổng chỉ huy thực thụ trên mọi phương diện lãnh đạo và quản trị đời sống kinh tế – xã hội đất nước.
Kiểm soát quyền lực – chiếc “lồng” cơ chế dân chủ – pháp quyền và bền vững
Có một câu hỏi đầy trăn trở suốt nhiều năm qua đó là: Khi quyền lực tập trung, làm sao để ngăn chặn sự tha hóa?
Quyền lực không có sự kiểm soát là một thứ quyền lực hoang dã. Nhất thể hóa không phải là tạo ra những “ông vua con”, “ông tướng hay bà tướng” ở địa phương, mà là thiết lập một cấu trúc quyền lực tập trung nhưng minh bạch hơn để dễ bề kiểm soát và giám sát.
Thứ nhất, sự giám sát của Nhân dân – tòa án lương tâm và công lý. Nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà phải là chủ thể giám sát. Khi nhất thể hóa, mọi trách nhiệm tập trung vào một cá nhân đứng đầu. Nhân dân biết rõ ai là người chịu trách nhiệm. Khi người đứng đầu sai lầm, không còn nơi để lẩn trốn sau tập thể. Đó chính là hình thức kiểm soát quyền lực trực diện, sâu sắc và cụ thể nhất.
Thứ hai, thiết lập cơ chế phanh hãm và đối trọng. Nhất thể hóa các chức danh lãnh đạo và hành pháp nhưng phải tăng cường quyền năng cho các cơ quan giám sát và tư pháp. HĐND phải thực sự là tiếng nói quyền lực của Nhân dân, chứ không thể là “cánh tay nối dài” mơ hồ nào đó của cơ quan hành pháp. MTTQ phải trở thành “bộ lọc” phản biện xã hội sắc sảo. Quyền lực phải được nhốt trong “chiếc lồng” quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Thứ ba, công nghệ hóa sự minh bạch. Trong kỷ nguyên số, quản trị quốc gia phải dựa trên dữ liệu. Mọi quyết định của người đứng đầu phải được số hóa, công khai để mọi người dân đều có thể giám sát. Đây là “ánh sáng” xua tan bóng tối của tham nhũng và cửa quyền.
Thứ tư, định danh người đứng đầu – văn hóa trách nhiệm. Nhất thể hóa đặt người lãnh đạo vào vị thế “đầu sóng ngọn gió”. Khi ấy, không còn chỗ cho sự ẩn nấp. Người đứng đầu không thể dùng danh nghĩa tập thể lãnh đạo để thoái thác sai lầm cá nhân. Quyền lực càng cao, trách nhiệm càng nặng. Đây là thời điểm để hiện thực hóa việc “có lên có xuống, có vào có ra” trong văn hóa từ chức. Ai không đáp ứng được yêu cầu, phải tự nguyện đứng sang một bên để người tài đức hơn gánh vác. Đó là sự liêm chính tối thiểu.
Thiết chế chính trị của kỷ nguyên mới
Nhất thể hóa các chức danh lãnh đạo và quản trị là một cuộc cách mạng về tổ chức, là một bước đi tất yếu để Việt Nam thoát khỏi “bẫy trung bình” về quản trị. Chúng ta không nhìn vào mô hình này như một giải pháp tình thế, mà là một thiết chế chính trị của kỷ nguyên mới – kỷ nguyên mà ở đó, hiệu quả là thước đo, sự hài lòng của Nhân dân là mục đích và vị thế của dân tộc trên trường quốc tế là cái đích cuối cùng.
Với lịch sử hàng ngàn năm văn hiến, với ý chí sắt đá của một dân tộc chưa bao giờ chịu lùi bước, chắc chắn sẽ vận hành thành công mô hình quản trị này. Chúng ta không chỉ xây dựng một Việt Nam giàu có về vật chất, mà còn là một Việt Nam mẫu mực về phương thức tổ chức xã hội và quản trị quốc gia. Lịch sử không có chỗ cho sự do dự. Chúng ta đổi mới để mạnh mẽ và vĩ đại hơn.
Nguồn: https://plo.vn/nhat-the-hoa-chuc-danh-lanh-dao-cuoc-cach-mang-tu-duy-de-kien-tao-ky-nguyen-moi-post903089.html

