Các năm Ngọ trong lịch sử y học thế giới gắn liền sự ra đời, thử nghiệm của nhiều loại vaccine, đặt nền móng cho dự phòng, kiểm soát dịch bệnh.
Nhiều cột mốc quan trọng về vaccine trùng vào những năm Ngọ, từ vaccine phòng các bệnh truyền nhiễm từng gây tử vong hàng loạt đến những đại dịch mới. Cụ thể những bước tiến trong nghiên cứu và sản xuất vaccine như sau:
12.000 học viên tại chi nhánh Chương trình Huấn luyện Chuyên ngành Quân đội của Đại học Michigan được tiêm vaccine cúm do Francis và Salk phát triển. Ảnh: Thư viện Lịch sử Bentley
Vaccine cúm bất hoạt năm Nhâm Ngọ 1942
Đầu thập niên 1940, Mỹ đối diện với áp lực chiến tranh và ký ức từ đại dịch cúm 1918-1919 khiến hàng chục nghìn binh sĩ tử vong. Trong bối cảnh đó, hai nhà virus học Thomas Francis Jr. và Jonas Salk đã phát triển vaccine cúm bất hoạt – một hướng đi an toàn hơn so với virus sống.
Năm 1942, vaccine được thử nghiệm trên 8.000 bệnh nhân tâm thần, cho thấy hiệu quả tạo miễn dịch rõ rệt. Sau đó, các thử nghiệm mở rộng trên binh sĩ Mỹ giai đoạn 1943-1944 chứng minh cúm có thể phòng ngừa bằng tiêm chủng ở quy mô cộng đồng. Francis cũng phát hiện virus cúm liên tục biến đổi, đặt nền tảng cho việc phát triển vaccine đa giá phòng nhiều chủng cùng lúc.
Các nghiên cứu quy mô lớn trong quân đội cho thấy vaccine cúm không chỉ bảo vệ người được tiêm mà còn tạo hiệu ứng miễn dịch cộng đồng, giúp giảm rõ rệt tỷ lệ mắc bệnh ngay cả ở những người chưa tiêm.
1,8 triệu người thử nghiệm lâm sàng vaccine bại liệt năm Giáp Ngọ 1954
Đầu thập niên 1950, dịch bại liệt bùng phát dữ dội tại Mỹ, khiến hàng chục nghìn trẻ em tàn tật và hơn 3.000 ca tử vong chỉ riêng năm 1952. Nhà khoa học Jonas Salk đã chọn hướng đi an toàn hơn: sử dụng virus bại liệt bất hoạt để phát triển vaccine, vừa giảm rủi ro vừa thuận lợi sản xuất quy mô lớn.
Năm 1954, gần 2 triệu trẻ em Mỹ tham gia thử nghiệm lâm sàng, kết quả công bố năm 1955 cho thấy vaccine đạt hiệu lực 80-90% trong phòng ngừa bại liệt thể liệt. Sau đó, vaccine nhanh chóng được triển khai rộng rãi, giúp số ca mắc tại Mỹ giảm từ khoảng 45.000 ca mỗi năm xuống còn 910 ca vào năm 1962. Trên toàn cầu, số ca bại liệt đã giảm hơn 99% kể từ khi vaccine được đưa vào sử dụng.
Bác sĩ Meyer lấy máu từ một trẻ em và bác sĩ Parkman khám tai cho một trẻ khác trong khuôn khổ thử nghiệm vaccine rubella tại thành phố Conway, bang Arkansas, năm 1966. Ảnh: Đại học Central Arkansas
Hoàn thành vaccine rubella năm Bính Ngọ 1966
Đầu thập niên 1960, rubella được xác định là bệnh nguy hiểm với phụ nữ mang thai, có thể gây sảy thai, thai chết lưu hoặc dị tật bẩm sinh. Đợt dịch 1964-1965 tại Mỹ khiến hàng triệu người mắc, hàng nghìn trẻ tử vong và hàng chục nghìn trẻ bị hội chứng rubella bẩm sinh.
Năm 1966, Paul D. Parkman và cộng sự tại Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH) công bố vaccine rubella bất hoạt an toàn, nhanh chóng được cấp phép năm 1969. Chỉ vài năm sau, gần 40 triệu trẻ em Mỹ đã được tiêm phòng, đưa rubella từ bệnh dịch sang phòng ngừa chủ động. Vaccine sau đó được tích hợp vào MMR (sởi – quai bị – rubella) năm 1971, góp phần loại trừ rubella tại Mỹ (2004) và toàn châu Mỹ (2015).
Bước ngoặt về vaccine liên hợp phòng bệnh do Hib năm Canh Ngọ 1990
Trước khi có vaccine, Hib là nguyên nhân hàng đầu gây viêm màng não ở trẻ dưới 5 tuổi, với tỷ lệ mắc cao và nhiều di chứng nặng.
Năm 1990, bước ngoặt xuất hiện khi vaccine Hib liên hợp được FDA phê duyệt. Khác với vaccine polysaccharide thế hệ cũ hiệu quả thấp ở trẻ nhỏ, loại liên hợp gắn kháng nguyên với protein mang giúp hệ miễn dịch nhận diện tốt hơn, tạo đáp ứng mạnh và bền vững.
Các thử nghiệm lâm sàng trên hàng nghìn trẻ sơ sinh cho thấy hiệu quả phòng bệnh đạt tới 93%. Từ đó, trẻ có thể được bảo vệ sớm ngay từ 2 tháng tuổi. Sau khi đưa vào chương trình tiêm chủng thường quy, số ca viêm màng não và nhiễm trùng xâm lấn do Hib giảm mạnh chỉ trong vài năm.
Trẻ nhỏ tiêm vaccine phòng sởi, quai bị, rubella tại Hệ thống Tiêm chủng VNVC. Ảnh: Mộc Thảo
Khởi động sáng kiến về vaccine Ebola năm Giáp Ngọ 2014
Năm 2014, dịch Ebola bùng phát dữ dội tại Tây Phi, WHO phải tuyên bố tình trạng y tế công cộng khẩn cấp toàn cầu và kêu gọi đẩy nhanh phát triển vaccine. Ba tháng sau, Wellcome Trust phối hợp với CIDRAP (Đại học Minnesota) khởi động Sáng kiến Nhóm Vaccine Ebola B, nhằm tháo gỡ những nút thắt khiến nghiên cứu vaccine nhiều năm vẫn dừng ở phòng thí nghiệm.
Khác với Nhóm A trực tiếp điều phối triển khai vaccine, Nhóm B đóng vai trò phản biện và định hướng chiến lược, kết nối toàn bộ chuỗi phát triển từ nghiên cứu, sản xuất, đánh giá an toàn – hiệu quả đến phê duyệt và phân phối. Nhóm quy tụ 28 chuyên gia quốc tế, trong đó có 8 nhà khoa học châu Phi, mang theo kinh nghiệm từ các chương trình lớn như xóa sổ bại liệt, kiểm soát viêm màng não nhóm A, nghiên cứu vaccine sốt rét và HIV/AIDS.
Từ cuối 2014 đến đầu 2015, Nhóm B họp liên tục, rà soát tiến trình phát triển vaccine Ebola, chỉ ra khoảng trống và đề xuất hướng đi thực tế. Tháng 2/2015, bộ khuyến nghị và hồ sơ sản phẩm mục tiêu được công bố, trở thành tài liệu tham chiếu quan trọng cho các nhà phát triển và cơ quan y tế trong nỗ lực chống dịch.
Bình Nguyên
Nguồn: https://vnexpress.net/nhung-dot-pha-vaccine-dien-ra-vao-nam-ngo-5041485.html

