Nhưng không chỉ nén lặng, thức tỉnh hồi ức với tiếng vọng cồng chiêng, huyền thoại rừng và voi, tập Linh thoại với 109 bài thơ còn chở rất nhiều bất thần cảm xúc của anh. Về quê hương, về thời gian vụt trôi, về mưa gió bão bùng, về rất nhiều thứ bỗng chốc anh “bắt” được hay có khi… “bắt” hụt. Cũng thành thơ, mà là thơ hay. Tố chất ấy, khởi đi từ chỗ nặng lòng với nhân gian. Muôn nỗi buồn vui. Lắm chuyện khóc cười. Tất cả, đã thành “nợ”. Một thứ nợ tinh thần đeo đẳng dằng xé Luyến, ngẫu nhiên biết được từ hồi tôi cùng anh mài quần trên những chiếc ghế xộc xệch của đời sinh viên ở ngôi trường Đại học Sư phạm Huế thập niên 1980.


Bìa 1 và bìa 2 tập thơ Linh thoại
Bởi thế, ở trang 59, khổ cuối của bài Nợ, Luyến viết: “Đời ta nắng mưa lỡ dở/Chưa chi tóc đã điểm sương/Gánh thơ như gánh cục nợ/Bao giờ trả hết mười phương?”. Câu hỏi ấy, hồ dễ ai trả lời nổi, với người làm thơ đích thực?
Là vì, cũng là chuyến tàu đi tàu đến, ai lơ đãng ai chộn rộn, một góc nào đó riêng biệt, anh ghi ngắn một bài, đọc nghe xao xác: “Tàu đến tàu đi bao giờ vẫn thế/Chỉ đón đưa khó nói lúc dừng/Bên này hân hoan bên kia ngấn lệ/Bên nào đây? Thăm thẳm mắt người dưng” (Ghi ở sân ga, trang 39). Làm cho tôi khi đọc chợt nhớ chuyến tàu Nha Trang – TP.HCM, đi cùng anh sau ngày hội lớp ở phố biển hồi tháng 7.2025. Trong cái tiếng động xình xịch đều đều ấy, sau khi đã nhấp vài chén rượu, ở giường bên tôi đoán Luyến vẫn thao thức. Liệu lúc ấy, có phải anh vẫn đang hình dung mỗi lúc chuyển ga, câu chuyện ấy, hình ảnh ấy ám ảnh mãi vào thơ?
Thơ, với Võ Văn Luyến hóa ra không phải dễ như người ta tưởng, như có nhiều lúc bạn bè nói rằng anh “thở ra thơ”. Cũng như phận nghiệp chìm nổi của nàng Kiều, ai làm thơ cho ra thơ mà chẳng đau đến tận cùng, sướng đến tê dại mới viết ra được lòng mình. Đọc thơ anh, tôi biết anh đã “sống” viên mãn một tâm hồn giàu có. Ví như cái chất thanh tân lồng vô chữ nghĩa (chẳng giả đò chi cho mệt) trong bài Yêu đến khi nào ở trang 25, khổ cuối đọc thấy “đã” bởi lời nhắn nhủ: “Này người ạ thương đau rồi cũng hết/Mang thanh xuân đi cuối đất cùng trời/Đến khi nào nguồn cơn nghe thấm mệt/Lá cuối mùa thanh thản nhẹ nhàng rơi”. Bài thơ hiền như một đóa hoa!
Để, những cái “nợ nần” đôi khi anh không nói ra mà tôi chợt nghe thở dài như bảo rằng “vớ vẩn” thoáng qua ấy, lại chằng níu bước chân Võ Văn Luyến, không quẳng gánh đi được. Là gánh mơ ước trong bài Xin thưa em với quê nhà:
Thôi xin về lại chân quê
Váng phèn bám gót đất lề thói xưa
Ao vua đổi lấy ruộng dưa
Mát lòng câu dạ lời thưa ngát tình
Nhưng đố ai thoát ra dễ dàng như thế được. Còn nắng còn mưa. Còn bao trầm luân phải nghĩ. Nên chi, phố thị nơi anh nương náu cũng tiếp tục nhọc lòng, như qua bài Đối ảnh in ở trang 54: “Thương nẻo trời bật dậy bến mê/thổ âm reo hò động cỡn/thị thành giấc mơ hồi hướng/gót ngọc đi hoang”!
Đọc hai khổ thơ cuối của 2 bài thơ trên, biết một bên là niềm hoài vọng thương mến, một bên là nhộn nhạo khắc khoải đời thường. Luyến chỉ chọn nó vào thơ, có lẽ. Mà chắt lọc đến thần tình.
Ở thành phố Đông Hà – Quảng Trị của Luyến, và cả của tôi, đôi khi tôi đọc được sự chung chiêng đèo dốc trong thơ anh. Tập thơ Linh thoại như một bóng râm, có bài mê hoặc, có bài phẫn uất, có đoạn tải về cái sự thao thức sáng tạo, có khi ngát hương như một góc sân nhà chiều nắng nhạt. Nhưng, đọc trên trang cá nhân của anh, có lần tôi tự hỏi: nếu Luyến không làm thơ, thì sẽ ra sao? Còn nếu làm thơ, thì anh phải vậy:
Tôi không tin gieo cẩu thả gặt vàng tâm
gieo sân hận gặt mơ mộng
tay trắng tay lấy gì hào phóng
chữ như hạt lúa mất mùa
(Sáng tạo – trang 80)
Câu cuối quá đắt. Nhặt sao cho được để thành một gánh cho đầy một đời thơ. Tiếng địa phương Quảng Trị nói riêng và Bình Trị Thiên (cũ) nói chung là phải “bòn mót”. Mà mấy ai nói được ra rằng “tôi đang bòn mót chữ”, theo kiểu hay như Luyến!

Nhà thơ Võ Văn Luyến (trái) và tác giả bài viết tại tòa soạn Báo Thanh Niên tháng 7.2025
Bỗng, nhớ một đoạn trong bản Ai nhớ chăng ai viết năm 1956 của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, cũng là người quê xứ huyện Triệu Phong – Quảng Trị (cũ), chỉ cách nhà Võ Văn Luyến mươi cây số. 70 năm qua, đoạn nhạc ấy còn bùi ngùi bao trái tim người miền Trung mỗi khi cất giọng: “…Mẹ già tóc bạc như sương. Nợ đời luôn còng đôi vai. Sương đớn đau trăm đường…”. Chữ “sương” trên là sương gió hoặc giọt sương với lối nói ẩn dụ ví von, còn “sương” ở câu sau là “gánh”, là cách chơi chữ viết theo thổ âm Quảng Trị. Nghĩa là “gánh đớn đau trăm đường”.
Tẩn mẩn với câu tự trào “gánh thơ như gánh cục nợ” của Luyến, tôi ngồi viết tặng nhà thơ Võ Văn Luyến bốn câu thơ có thổ âm của xứ quê anh và tôi: “Sương thơ oằn câu oằn chữ/Dốc đời trĩu nặng ngả nghiêng/Tuổi dày đêm ngày cười khóc/Vẫn cong nặng mãi đòn triêng!”
Sương, chữ đầu trong bốn câu này, cũng là gánh. Còn “đòn triêng”, nghĩa là cái đòn gánh. Vì người Quảng Trị hay nói “triêng gióng” thay cho “quang gánh”. “Gióng” tức đôi quang, là vậy.
Dù là gì đi nữa, theo nghĩa phổ thông hay phương ngữ, thì với Võ Văn Luyến, đời anh vẫn cứ phải nặng… gánh thơ!
Sài Gòn, ngày cuối tuần tháng 4.2026
Linh thoại của Võ Văn Luyến, NXB Hội Nhà văn in tháng 12.2025, là tập thơ thứ 7 của anh, trong đó 6 tập do NXB Hội Nhà văn in ấn từ 2007 đến nay, 1 tập do NXB Thuận Hóa in năm 2003.
Nguồn: https://thanhnien.vn/no-tho-qua-linh-thoai-cua-vo-van-luyen-185260410130154518.htm

