Đảo Hòn Chuối – hòn đảo khắc nghiệt bậc nhất trong hệ thống các đảo tiền tiêu – không giữ chân người ta bằng sự trù phú hay những bãi cát mộng mơ. Nó níu giữ những phận đời bằng tình thương và sự đùm bọc.
Ở đó, có những ngôi nhà biết “đi trốn” mỗi khi gió chướng về, có người mẹ mù chữ mơ con viết được tên mình, và có những người lính quân y coi việc “thất nghiệp” là hạnh phúc lớn nhất đời mình.

Hải trình thử thách lòng kiên nhẫn giữa trùng khơi
Sau khi vượt qua chặng đường biển dài khoảng 35 hải lý, tương đương hơn 64 km, từ đảo Hòn Khoai, hai tàu vận tải, đổ bộ đa năng RORO 5612 mang số hiệu 527 và 528 của Lữ đoàn 127, Vùng 5 Hải quân đã đưa đoàn công tác đến với vùng biển Hòn Chuối, xã Sông Đốc, tỉnh Cà Mau.
Dù là “người khổng lồ” với lượng giãn nước hơn 1.500 tấn, hiện đại và vững chãi, trước cấu tạo địa chất đặc biệt với những bãi đá ngầm sắc lẹm, hai tàu cũng đành thả neo từ xa. Từ boong tàu lớn nhìn vào, đảo Hòn Chuối hiện ra xanh thẫm, dựng đứng như một bức tường thành kiêu hãnh giữa đại dương.
Một cuộc “tăng bo” – thuật ngữ quen thuộc của lính đảo – bắt đầu diễn ra. Đoàn công tác phải rời tàu lớn, chuyển sang những chiếc tàu cá của ngư dân được huy động ra hỗ trợ. Khi tàu cá tiến đến gần bờ hơn, những rạn đá ngầm lởm chởm lộ ra, buộc đoàn phải thực hiện lần chuyển tải thứ hai xuống những chiếc ghe gỗ, vỏ lãi nhỏ bé mới có thể cập bờ.

Chiếc ghe tròng trành, chao đảo dữ dội, chồm lên rồi hụp xuống giữa những con sóng bạc đầu, nước biển bắn rát mặt. Trong khoảnh khắc “đánh cược” với sóng gió ấy, sự cô lập và gian nan trong việc đi lại mà quân và dân đảo Hòn Chuối phải đối mặt hàng ngày mới hiện hữu rõ nét nhất. Đó không chỉ là sự bất tiện, đó là cuộc chiến sinh tồn mỗi khi muốn rời đảo hay vào bờ.
Phận đời “du mục” trên chính quê hương
Vừa đặt chân lên cầu cảng, khái niệm về sự “an cư lạc nghiệp” dường như bị đảo lộn. Hòn Chuối không có đất bằng. Những ngôi nhà ở đây bám vào vách đá, cheo leo, chênh vênh như tổ chim trước bão.
Đó là một tập hợp chắp vá của sự tạm bợ đến xót xa: Những tấm bạt sọc dứa xanh đỏ đã bạc phếch màu thời gian, những mảnh ni lon đen được đóng đinh chi chít vào khung gỗ tạp để chắn gió lùa, và những mái tôn rỉ sét xếp chồng lên nhau. Đá đè lên tôn, tôn đè lên gỗ, cả ngôi nhà gồng mình để không bị gió bốc đi.
“Ở đất liền, người ta xây nhà để ở cả đời. Còn ở đây, nhà biết đi đấy”, chị Kim Ngọc Huyền, người phụ nữ 45 tuổi, một cư dân sống trên đảo Hòn Chuối hơn 30 năm, nói.
Hòn Chuối nằm ở thế “đứng mũi chịu sào”, hứng trọn hai mùa gió chính: Gió Chướng (Đông Bắc) và gió Nam (Tây Nam). Khi gió mùa Đông Bắc rít lên từng hồi, sóng điên cuồng vỗ vào mặt trước, người dân lại hò nhau tháo dỡ nhà cửa, ôm từng tấm tôn, từng cái cột, vác giường tủ băng qua bên kia sườn đảo để dựng lại.
Đến mùa gió Nam, họ lại làm quy trình ngược lại. Mỗi năm hai lần “chạy gió”. Cuộc sống của chị Huyền và hơn 60 hộ dân nơi đây là những chuỗi ngày “du mục” ngay trên chính mảnh đất quê hương mình.
Câu chuyện đời chị Huyền là một nốt trầm buồn. Từ nhỏ chị đã theo cha mẹ ra đây, sự khắc nghiệt của đảo xa đã đẩy người chồng ra đi, để lại chị vò võ nuôi con. Chị từng mang con bỏ đảo, lên Bình Dương (cũ) làm công nhân với giấc mơ đổi đời. Nhưng 6 năm nơi đất khách, giữa ánh đèn đô thị phồn hoa nhưng xa lạ, chị nhận ra mình lạc lõng. Sự ngột ngạt của phố thị không đáng sợ bằng sự cô đơn. Chị quyết định quay về.
Ngày về, căn nhà cũ đã mục nát, chỉ còn trơ lại khung gỗ. Nhưng tình người ở Hòn Chuối thì vẫn ấm nóng. Bà con chòm xóm, những người lính biên phòng đã xúm lại, người cho tấm bạt, người góp công dựng lại cho mẹ con chị mái nhà.
“Lúc đó mới thấm, dù đảo có nghèo, gió có to, nhưng ở đây mình có gốc rễ. Bà con không bỏ mình, bộ đội không bỏ mình. Về đây để thấy lòng mình bình an”, chị Huyền nghẹn ngào.
Cuộc giằng co giữa “con cá” và “con chữ”
Trên hòn đảo rộng chừng 7 km2 nhưng có độ cao gần 170m so với mực nước biển này, địa hình chủ yếu là núi đá, độ dốc cao. Nhưng trên con đường dốc đứng ấy, ngày ngày vẫn in dấu chân của những đứa trẻ đi tìm con chữ.
Đảo Hòn Chuối chưa có hệ thống trường học quốc gia. Nguy cơ thất học hiển hiện ngay trước mắt những đứa trẻ sinh ra giữa sóng nước. May mắn thay, ánh sáng tri thức vẫn được thắp lên từ một lớp học đặc biệt nằm tít trên cao: Lớp học tình thương do Đồn Biên phòng Hòn Chuối và Trạm Radar 615 phối hợp với tổ nhân dân tự quản mở ra.
Người “gieo chữ” nơi đây là Trung tá Trần Bình Phục – Đội phó Đội công tác vận động quần chúng Đồn Biên phòng Hòn Chuối. Anh không chỉ là thầy giáo, mà còn là người cha, người anh của lũ trẻ. Lớp học hiện có 11 em – con số khiêm tốn nhưng là cả một nỗ lực phi thường.
Đó là một lớp ghép, rải rác trình độ từ lớp 1 đến lớp 5. Bé Kim Hoàng Khang, con trai chị Huyền, đang học lớp 3. Cậu bé có đôi mắt sáng và nước da đen nhẻm đặc trưng của dân biển. Mỗi ngày, Khang phải dậy sớm, vượt qua con dốc dài hun hút để đến lớp.
“Em đi học mệt lắm, đường dốc chân mỏi nhừ, nhưng em chưa bỏ học ngày nào”, Khang lí nhí kể, tay vân vê tà áo đồng phục trắng, thứ mà các chú bộ đội đã tặng cho em.

Đằng sau sự chuyên cần của cậu bé 13 tuổi ấy là cả một cuộc đấu tranh tư tưởng âm thầm của người mẹ. Chị Huyền không biết chữ. Cả đời chị lam lũ với con cá khô và mớ lưới rách. Đôi lúc, cái đói ập đến, ý nghĩ cho con nghỉ học để đi làm thuê lại nhen nhóm.
Khang thương mẹ, nhiều lần định bỏ học để đi gỡ lưới thuê. Nhưng rồi thầy Phục lại đến. Thầy không chỉ mang sách vở, quần áo, thầy mang đến niềm tin rằng chỉ có tri thức mới thay đổi được số phận.
“Đời chị khổ rồi, chỉ mong con biết chữ. Ít nhất nó phải biết viết tên nó, tên mẹ, tên hòn đảo này”, chị Huyền quệt nước mắt. Với người đàn bà quanh năm bám biển, cái chữ chỉ đơn giản là để con mình được làm một “người có tên” đúng nghĩa.
Giờ đây, lớp học tình thương ấy đã được công nhận là một điểm trường chính thức trong hệ thống giáo dục của xã Sông Đốc. Đó là quả ngọt cho hơn một thập kỷ thầy Phục và đồng đội kiên trì bám đảo, chắt chiu từng viên phấn để gieo hi vọng nơi đầu sóng.

“Bác sĩ” không mong có bệnh nhân
Hòn Chuối là đảo “hai không”: Không trường học công lập, không trạm y tế dân sự. Điểm tựa sức khỏe duy nhất của hơn 220 cư dân nơi đây là tủ thuốc của quân y.
Thiếu tá quân nhân chuyên nghiệp Nguyễn Trung Khắc, nhân viên quân y Trạm Radar 615, Trung đoàn 551, Vùng 5 Hải quân, đã có 11 năm gắn bó với đảo. Hơn một thập kỷ, mái tóc đã điểm sương, và nỗi nhớ nhà, nhớ vợ con ở Sóc Trăng (cũ) đã được nén chặt vào trong để nhường chỗ cho trách nhiệm.
Anh Khắc không chỉ là bác sĩ, mà như người thân của mọi nhà. Anh thuộc làu từng địa chỉ, nhớ rõ ai bị cao huyết áp, ai hay đau khớp mỗi khi trời trở gió.
Do địa hình hiểm trở, người già ốm đau không thể leo dốc lên trạm xá quân y, anh Khắc lại khoác túi thuốc lên vai, dò dẫm xuống tận nhà dân thăm khám. Có những đêm mưa, đường dốc trơn, nhiều nguy hiểm, nhưng nghe tin dân đau, người lính ấy lại lên đường.
Khi được hỏi về mong ước lớn nhất của đời làm quân y, Thiếu tá Khắc chia sẻ một điều nghe qua thật lạ đời: “Tôi chỉ mong được… thất nghiệp. Tôi mong được làm việc ít đi, không phải vì tôi lười hay ngại việc, mà vì tôi mong cho bà con luôn mạnh khỏe để yên tâm làm ăn”.
Lời mong ước giản dị ấy chứa đựng một triết lý sâu sắc của người lính Cụ Hồ: “Hạnh phúc của mình nằm trong sự bình an của nhân dân”. Anh Khắc hiểu rõ sự mong manh của sự sống nơi đảo xa. “Nếu nằm trong khả năng thì mình xử trí tại chỗ, còn không sẽ tư vấn bệnh nhân vào bờ. Nhưng việc chuyển viện phụ thuộc rất lớn vào thời tiết. Gặp hôm biển động thì vô cùng gian nan”, anh Khắc trầm ngâm.

Trong ký ức của người lính vẫn còn in đậm ca cấp cứu viêm ruột thừa cấp năm nào. Bệnh nhân đau quằn quại giữa đêm khuya, biển động dữ dội. Không thể mổ tại chỗ vì thiếu trang thiết bị, nhưng nếu để lâu thì vỡ ruột thừa. Anh vừa sơ cứu, giảm đau, vừa cùng chỉ huy đơn vị liên hệ khẩn cấp, phối hợp với Biên phòng và tàu cá ngư dân để tìm cách đưa người vào bờ.
Suốt mấy tiếng đồng hồ lênh đênh trên biển, anh túc trực bên cạnh, nín thở theo dõi từng nhịp tim của bệnh nhân. Chỉ khi ca mổ ở bệnh viện đất liền thành công, anh mới thở phào nhẹ nhõm.
Nghĩa tình quân dân trong từng gầu nước ngọt
Ở đảo Hòn Chuối, nước ngọt quý hơn vàng, đặc biệt vào mùa khô. Ông Kim Ngọc Hậu, Tổ trưởng Tổ nhân dân tự quản trên đảo, ví von đầy hình tượng: “Sự hỗ trợ của các đơn vị đóng quân giống như một “bến đỗ chắn sóng” cho dân vậy”.
Bởi, chính vào những ngày khan hiếm nước ngọt nhất, các chiến sĩ Trạm Radar 615 và đồn Biên phòng lại xắn tay áo, nối đường ống, chia sẻ từng gầu nước ngọt dự trữ của đơn vị cho bà con sử dụng. Những giọt nước ấy không chỉ giải tỏa cơn khát vật lý, mà còn tưới mát tâm hồn người dân bám đảo.
Khi người dân gặp khó khăn, bộ đội cũng là những người đầu tiên có mặt. Trong những “Ngày tình nguyện xanh” do Chi đoàn thanh niên trên đảo tổ chức, màu áo lính hòa lẫn màu áo dân, cùng nhau dọn dẹp rác thải trôi dạt vào bờ đá, cùng nhau vệ sinh đường sá để phòng chống dịch bệnh. Những ngôi nhà xiêu vẹo sau gió lớn cũng được bộ đội đóng góp ngày công sửa chữa, gia cố lại cho chắc chắn hơn.
Mối quan hệ quân – dân ở đảo Hòn Chuối là tình làng nghĩa xóm, là sự nương tựa máu thịt, như lời chị Huyền tâm sự: “Bộ đội và dân như người nhà. Có liên hoan, giỗ chạp gì bà con đều mời các anh. Đi ngang qua gặp nhau chào hỏi như người thân. Sóng gió bão bùng thì họ đều chạy đến giúp dân ngay”.
Rời Hòn Chuối khi nắng chiều đã nhạt, con tàu nhỏ lại đưa đoàn công tác trở ra tàu lớn để tiếp tục hành trình sang đảo Nam Du. Ngoái nhìn lại, cờ đỏ sao vàng vẫn tung bay phấp phới trên mái nhà của chị Huyền, nổi bật trên nền xanh thẫm của rừng và biển.

Dưới bóng cờ ấy là những ngôi nhà vách bạt đang rung lên trong gió chiều, là tiếng trẻ thơ ê a học chữ bên vách đá, là dáng hình những người lính quân y đang miệt mài với túi thuốc. Chị Huyền, bé Khang, ông Hậu, thầy Phục, bác sĩ Khắc… vẫn ở đó, không phải vì không có đường lui, mà vì họ đã chọn ở lại.
Họ bám biển để mưu sinh, và bám đảo để giữ gìn tấc đất thiêng liêng của cha ông. Sự hiện diện của những người dân đôn hậu cùng những người lính Hải quân, Biên phòng kiên trung chính là những “cột mốc sống” vững chãi nhất, khẳng định chủ quyền biển đảo Tây Nam của Tổ quốc.
Và có lẽ, niềm tin mãnh liệt nhất nằm trong lời mong mỏi của người mẹ mù chữ Kim Ngọc Huyền: “Con trai chị lớn lên sẽ không vào đất liền, mà gắn bó và phát triển hòn đảo này”.
Nguồn: https://plo.vn/noi-bac-si-mong-that-nghiep-nha-cua-chay-theo-mua-gio-post891112.html

