Thứ sáu, Tháng hai 20, 2026
HomeKinh DoanhNông nghiệp Việt Nam: Từ xuất khẩu nông sản thô đến "triệu...

Nông nghiệp Việt Nam: Từ xuất khẩu nông sản thô đến “triệu đô” công nghệ

Việt Nam đang chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ trong ngành nông nghiệp, từ tư duy sản xuất truyền thống sang định hướng hiện đại, công nghệ cao và nông nghiệp xanh, theo tinh thần các văn kiện trình Đại hội XIV của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Nông dân Việt Nam không còn chỉ bán nông sản thô mà đang vươn tới xuất khẩu các giải pháp công nghệ và quy trình sản xuất.

Nông nghiệp Việt Nam: Từ xuất khẩu nông sản thô đến triệu đô công nghệ - 1

Một nông dân Việt Nam thuần thục công nghệ, làm chủ tình hình canh tác trên đồng ruộng (Ảnh: Hoàng Duật).

Làm giàu từ quy trình canh tác triệu đô

Hành trình thay đổi bắt đầu từ việc chuyển đổi tập quán sản xuất của người nông dân. Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An (Cần Thơ) là một minh chứng điển hình cho khát vọng làm chủ quy trình và sở hữu giá trị tri thức.

Trung An đã tiên phong thực hiện thành công mô hình cánh đồng lớn, xây dựng vùng nguyên liệu lúa sạch hàng nghìn hecta (hơn 1.700 ha trực tiếp và hàng ngàn ha liên kết). Mỗi hạt lúa được tính toán khoa học để đáp ứng hơn 500 chỉ tiêu khắt khe về dư lượng của châu Âu. Đội ngũ kỹ sư của Trung An đã đồng hành cùng nông dân, giúp họ từ bỏ thói quen lạm dụng hóa chất và sạ dày truyền thống.

Tại thị trường Hàn Quốc, Trung An chiếm tới 83% tổng sản lượng gạo Việt Nam xuất khẩu vào năm 2021 và duy trì vị thế áp đảo trong các năm tiếp theo. Mới đây, đơn vị này đã chốt đơn hàng hơn 16.000 tấn gạo thơm sang Hàn Quốc với mức giá 674 USD/tấn, cao hơn đáng kể so với các nước xuất khẩu gạo lớn khác tại châu Á.

Nông nghiệp Việt Nam: Từ xuất khẩu nông sản thô đến triệu đô công nghệ - 2

Trung An là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam xuất khẩu lô hàng Gạo Việt phát thải thấp đầu tiên sang Nhật Bản (Ảnh: Công ty Trung An).

Công ty còn có 800ha vùng nguyên liệu hữu cơ tại Kiên Giang (nay là An Giang) đạt chứng chỉ Organic của Mỹ, châu Âu, Nhật Bản và kế hoạch vận hành lên tới 200.000ha trong Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao. Ông Phạm Thái Bình, Tổng giám đốc Công ty Trung An, khẳng định đề án này là lời giải cốt lõi cho bài toán phát triển bền vững.

Trung An đặt mục tiêu chiếm 50% kim ngạch xuất khẩu gạo sạch cả nước vào năm 2030. Đặc biệt, tại thị trường EU, nhờ làm chủ quy trình kiểm soát tồn dư hóa chất, hạt gạo Việt có thể đạt mức giá lên tới 2.000 USD/tấn. Giữa năm 2025, công ty đã xuất khẩu lô gạo nhãn hiệu “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” sang Nhật Bản.

“Đây là thời cơ của ngành hàng lúa gạo Việt Nam với sự vào cuộc tích cực của Nhà nước, các tổ chức quốc tế, chính quyền địa phương, đặc biệt là nông dân và hợp tác xã để định vị hạt gạo Việt Nam trên thế giới”, ông Phạm Thái Bình nhấn mạnh.

Quan trọng hơn những con số kinh tế, quy trình này đã phục hồi hệ sinh thái đồng ruộng và thay đổi hoàn toàn tư duy của người nông dân. Giờ đây, người sản xuất có thể tự hào và tự tin sử dụng hạt gạo từ kho nhà mình mà không còn lo ngại về dư lượng hóa chất.

Nông nghiệp Việt Nam: Từ xuất khẩu nông sản thô đến triệu đô công nghệ - 3

Hơn 20.000 tấn “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” được công nhận, trong đó hơn 500 tấn xuất khẩu sang Nhật Bản (Ảnh: Công ty Trung An).

Cơ hội của nông nghiệp Việt

Thạc sĩ Lê Thanh Phong, Phó Viện trưởng Viện Biến đổi khí hậu (ĐH An Giang – ĐHQG TPHCM), nhận định con đường đưa nông nghiệp Việt Nam vươn tầm thế giới còn vấp phải không ít nút thắt nội tại. Thực trạng sản xuất nông nghiệp xanh trong quan điểm của người dân còn hạn chế, là rào cản lớn khiến việc áp dụng công nghệ cao trở nên khó khăn.

Bên cạnh đó, gánh nặng về chi phí đầu vào và sự thiếu vắng các cơ chế chia sẻ rủi ro trong giai đoạn chuyển đổi xanh khiến nhiều người làm nông nghiệp còn e dè. Đặc biệt, ông Phong nhấn mạnh bài toán khó giải nhất là tâm lý ngại thay đổi của bà con nông dân, những người vốn đã quen với tập quán canh tác cũ.

Để hiện thực hóa các chỉ đạo chiến lược từ Đại hội XIV, Thạc sĩ Phong hiến kế một lộ trình hành động đồng bộ, dựa trên 3 trụ cột then chốt.

Kiến tạo thể chế gắn liền với bảo hộ “tài sản xám” trong nông nghiệp: Nhà nước cần hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo dựng lá chắn vững chắc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Khi quy trình canh tác thông minh hay bản quyền giống cây trồng được công nhận là tài sản trí tuệ, Việt Nam mới đủ thực lực để thương mại hóa tri thức ra thị trường quốc tế. Việc đơn giản hóa thủ tục chứng nhận và triển khai các gói tín dụng ưu đãi sẽ là bệ đỡ tài chính cần thiết.

Nuôi dưỡng các doanh nghiệp để dẫn dắt con đường xuất khẩu công nghệ: Việt Nam hoàn toàn đủ khả năng đóng gói tri thức thành các giải pháp thương mại toàn cầu. Thay vì chỉ bán nông sản thô, chúng ta cần hướng đến xuất khẩu cả một “hệ thần kinh số”, một hệ sinh thái bao gồm từ cảm biến IoT, phao quan trắc mặn đến các thuật toán quản trị dữ liệu thông minh.

Những gói giải pháp này sẽ là câu trả lời mà Việt Nam dành cho các khu vực có điều kiện tương đồng như Châu Phi hay Trung Đông, khẳng định vị thế dẫn dắt của tri thức Việt trong nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.

Định vị thương hiệu quốc gia thông qua các giá trị văn hóa: Nông nghiệp hiện đại không thể tách rời những câu chuyện về lịch sử và bản sắc dân tộc. Mỗi sản phẩm nông nghiệp vươn ra thế giới không chỉ mang theo giá trị vật chất, mà còn là sứ giả truyền tải những thông điệp nhân văn và nguồn gốc đặc trưng của con người Việt Nam.

Khi sản phẩm đạt đến sự chuẩn mực về chất lượng, tiệm cận với các tiêu chuẩn khắt khe nhất của các quốc gia phát triển, thương hiệu nông nghiệp Việt Nam sẽ tạo dựng được niềm tin tuyệt đối và sự tự hào trong lòng đối tác quốc tế, theo ông Phong.

Nguồn: https://dantri.com.vn/kinh-doanh/nong-nghiep-viet-nam-tu-xuat-khau-nong-san-tho-den-trieu-do-cong-nghe-20260114221550447.htm

DanTri Logo

Hello Mình là Cải

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Mới nhất
Cũ nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Tin Nóng Hôm Nay