Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, khoảng 15% dân số Việt Nam tương đương gần 15 triệu người đang phải đối mặt với ít nhất một trong 10 rối loạn tâm thần phổ biến.
Đáng chú ý là các vấn đề như trầm cảm hay lo âu và rối loạn hành vi đang có xu hướng lan rộng ở nhóm đối tượng trẻ tuổi bao gồm cả trẻ em lẫn thanh thiếu niên. Phụ nữ cũng là nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng lớn từ các áp lực tâm lý trong cuộc sống hiện đại.
Phủ nhận bệnh tâm thần của con, người cha gieo mầm bi kịch (Video: Hải Yến – Khánh Vi).
Sự kỳ thị và thiếu hiểu biết về sức khỏe tâm thần không chỉ tước đi cơ hội chữa trị của người bệnh mà còn là mầm mống cho những bi kịch kéo dài nhiều thập kỷ.
ThS.BS Bùi Phương Thảo, hiện đang công tác tại khoa Tâm thần Trẻ em của một cơ sở y tế trên địa bàn Hà Nội chia sẻ về câu chuyện xót xa được truyền lại từ thế hệ trước.
Từ chối bệnh lý để chọn lấy án tù
Theo chia sẻ của bác sĩ Thảo, hồ sơ ghi nhận về một nam thanh niên mắc chứng tâm thần phân liệt, thể có hoang tưởng ảo giác chi phối hành vi. Trong một cơn kịch phát của bệnh lý, ảo thanh xúi giục trong đầu đã khiến anh ta mất kiểm soát và dùng hung khí tấn công người hàng xóm.
Nạn nhân may mắn được các bác sĩ tại Bệnh viện Quân y 103 cứu sống. Tuy nhiên, người gây án vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.
Điểm mấu chốt của vụ án nằm ở giai đoạn điều tra. Khi các cơ quan chức năng phát hiện dấu hiệu bệnh lý và đề xuất giám định để áp dụng tình tiết giảm nhẹ hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng hình thức chữa bệnh bắt buộc, rào cản lớn nhất lại đến từ phía gia đình.
Nhớ lại phản ứng cực đoan của người thân bệnh nhân lúc bấy giờ, bác sĩ Thảo thuật lại lời của người cha với vẻ trầm ngâm: “Không! Nhà tôi không có mảng tâm thần. Đây là nó láo chứ không phải con tôi có bệnh tâm thần”.
Bằng thái độ quyết liệt, người cha đã khước từ mọi nỗ lực giám định sức khỏe tâm thần cho con trai mình. Hệ quả tất yếu là thay vì được đưa đến một cơ sở y tế chuyên khoa để điều trị các rối loạn nhận thức, người thanh niên này đã phải nhận án tù như một tội phạm bình thường.
10 năm trong môi trường giam giữ mà không có sự can thiệp y tế chuyên biệt, các tổn thương não bộ và rối loạn hành vi của người bệnh không hề thuyên giảm mà trái lại còn trở nên trầm trọng hơn. Sau khi mãn hạn tù, người thanh niên trở về nhà trong trạng thái tâm thần bất ổn.
“Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy. Trong một cơn tái phát bệnh cũ, người thanh niên này đã dùng dao sát hại chính cha của mình – người từng kiên quyết phủ nhận bệnh tật của anh”, bác sĩ Thảo xót xa khi nói về cái kết nghiệt ngã.
Bi kịch vẫn chưa dừng lại ở đó. Sau khi gây án lần thứ hai, người này mới chính thức được đưa vào trại cải tạo bắt buộc dành cho phạm nhân có vấn đề về sức khỏe tâm thần.
Tuy nhiên, do tính chất nguy hiểm của thể bệnh tâm thần phân liệt không được kiểm soát sớm, bệnh nhân này lại tiếp tục gây ra một vụ án mạng khác.
“Trong một lần cô cấp dưỡng nhờ anh này thái rau, anh ấy lại tiếp tục dùng dao đâm chết cô ấy”, bác sĩ Thảo chia sẻ với giọng buồn bã khi đề cập đến sự bế tắc của một cuộc đời không được chữa trị đúng lúc.
Định kiến tước đi cơ hội chữa trị
Sự kỳ thị không chỉ dừng lại ở việc phủ nhận bệnh trạng mà còn thể hiện qua thái độ bài trừ các phương pháp điều trị tây y. Nhiều gia đình, thay vì tin tưởng vào phác đồ khoa học, lại lựa chọn những phương thức chữa trị cảm tính, vô tình tước đi cơ hội phục hồi duy nhất của người bệnh.
Bác sĩ Thảo dẫn chứng trường hợp một bé gái 12 tuổi bị chậm phát triển trí tuệ, mất khả năng ngôn ngữ và các kỹ năng sinh hoạt cơ bản.
Điều đáng tiếc nhất là trong hồ sơ bệnh lý, bé gái này từng có một tuổi thơ hoàn toàn bình thường. Cô bé từng biết hát trước khi những cơn co giật đầu tiên xuất hiện vào năm 3 tuổi.
Thay vì đưa con đến các bệnh viện chuyên khoa để tầm soát và điều trị động kinh, gia đình em lại đưa ra lựa chọn khác.
Bác sĩ Thảo cho biết người thân của bé có ác cảm rất lớn với thuốc tâm thần và các liệu pháp Tây y nên đã kiên quyết chỉ sử dụng Đông y để chữa trị.
“Chính lựa chọn sai lầm này đã khiến các cơn động kinh kéo dài trong nhiều năm, gây tổn thương nghiêm trọng đến não bộ của trẻ. Hệ quả là toàn bộ những kỹ năng đã phát triển trước đó dần biến mất và bệnh nhi trở thành người chậm phát triển trí tuệ”, bác sĩ Thảo nhận định.
Định kiến với bệnh tâm thần và phương pháp điều trị khoa học đang âm thầm lấy đi cơ hội hồi phục của nhiều người bệnh (Ảnh minh họa).
Khi người nhà phủ định các vấn đề sức khỏe của bệnh nhân thì kết cục thường là sự bế tắc kéo dài hoặc những hành vi gây hại cho bản thân và xã hội.
Sự kỳ thị từ chính những người thân ruột thịt giống như một bản án gián tiếp tước đi quyền được chữa bệnh và quyền được sống bình thường của người bệnh.
Không chỉ xã hội mà ngay cả bản thân người bệnh đôi khi cũng cảm thấy mặc cảm về tình trạng của chính mình khiến quá trình hồi phục trở nên vô cùng khó khăn.
Điều trị là chìa khóa duy nhất
Để ngăn chặn những thảm kịch tương tự, việc thay đổi nhận thức cộng đồng về sức khỏe tâm thần là yêu cầu cấp thiết.
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), “sức khỏe là trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là sự vắng mặt của bệnh tật hay suy yếu”.
Trong hệ thống y khoa, phần lớn các chuyên khoa có thể xác định bệnh lý thông qua các chỉ số cận lâm sàng như X-quang, xét nghiệm máu hay chẩn đoán hình ảnh.
Tuy nhiên, tâm thần học là lĩnh vực mang tính đặc thù. Đây là chuyên khoa duy nhất tập trung vào việc chữa lành những tổn thương “vô hình” thông qua các liệu pháp tâm lý, điều chỉnh hành vi và cân bằng hóa học não bộ.
Chia sẻ về giải pháp cốt lõi, bác sĩ Thảo trăn trở: “Không ai trong chúng ta có thể khẳng định mình bình thường 100% các cơ quan trên cơ thể suốt cuộc đời. Tâm thần là chuyên khoa duy nhất điều trị và chăm sóc sức khỏe tinh thần nên nó cần được xã hội nhìn nhận một cách đúng đắn hơn”.
“Trong lĩnh vực này, việc chấp nhận và điều trị là chìa khóa duy nhất giúp bệnh nhân phục hồi”, bác sĩ nói.
Theo chuyên gia, bệnh tâm thần cần được tiếp cận như các bệnh lý nội khoa hoặc ngoại khoa khác. Người bệnh cần được thăm khám, chẩn đoán và điều trị kịp thời bằng các phương pháp phù hợp.
Việc xem bệnh tâm thần là một “nỗi hổ thẹn” hay “vết nhơ” gia đình chính là sợi dây vô hình thắt chặt thêm sự bế tắc của người bệnh.
Trong bối cảnh đó, nhiều ý kiến cho rằng cần loại bỏ ánh nhìn mang tính kỳ thị khỏi đời sống và ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày. Sự đồng hành, kiên trì và thấu hiểu từ gia đình được xem là yếu tố quan trọng, góp phần hỗ trợ người bệnh trong quá trình phục hồi.
Một cộng đồng văn minh không chỉ dừng lại ở việc thừa nhận bệnh tâm thần mà còn tạo điều kiện để người bệnh được tiếp cận điều trị và tái hòa nhập.
Nguồn: https://dantri.com.vn/suc-khoe/phu-nhan-benh-tam-than-cua-con-nguoi-cha-gieo-mam-bi-kich-20260403134206328.htm

